Năm Đức Tin 2013 - Hành hương Âu châu: Cha Thánh Piô ở Rotondo
Từ Roma đến Rotondo với chặng đường dài 880km. Xe bus chạy 7 giờ đồng hồ mới tới nơi. Dọc đường, tôi thấy xa xa những đỉnh núi còn phủ tuyết trắng xóa. Suốt hành trình xa xôi, tôi tranh thủ đọc những tư liệu về Cha Thánh Piô. Đó là cuốn “Cuộc đời Cha Piô”, tác giả Dorothy M. Gaudiose, Phó Tế Trần Văn Nhật lược dịch, tôi đã tải về laptop từ trang dunglac.org. Xem thêm bộ phim gồm 23 phần về Thánh Piô Năm Dấu trên Youtube, kể về cuộc đời thánh thiện của ngài.
Xem hình ảnh Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đi những xe nhỏ loại 15 chỗ ngồi để leo dốc. Khoảng 20 phút thì đến nơi.Trên núi cao, chúng tôi nhìn thấy nguy nga những công trình, Bệnh viện Casa Sollievo della Sofferenza lớn nhất nước Ý, Chặng đàng thánh giá Rotondo, Đền Thánh Cha Piô cũ và mới với một quãng trường rộng mênh mông. Năm 1940, cha Piô đã xây dựng một Bệnh viện ở San Giovanni Rotondo mang tên Casa Sollievo della Sofferenza (Trung tâm chữa lành bệnh nhân). Bệnh viện được mở vào năm 1956 và được coi như là một trong những bệnh viện chữa bệnh hữu hiệu nhất ở Châu Âu. 1. Đền thánh cũ – Nhà thờ Đức Mẹ Ban Ơn Đàng thánh giá theo kiểu hiện đại ở bên sườn đồi với những rặng cây xanh mát ở trên Nhà thờ Santa Maria della Grazie. Công trình Đàng thánh giá này được xây dựng vào năm 1968 (một ngày trước khi cha Piô qua đời) và được hoàn thành năm 1981. Nó được thiết kế bằng đá hoa cương với những tượng bằng đồng và cẩm thạch do Điêu khắc gia người đảo Sicile tên là Francesco Messina thiết kế. Trước Nhà thờ có tượng Chân Phước Gioan Phaolô II. Chúng tôi chụp hình chung trước tượng cha Piô nơi đàng thánh giá, sau đó vào nhà thờ viếng Chúa và tham quan. Có nhiều bức tranh theo nghệ thuật mosaic hai bên Nhà thờ. Bức tranh trên cung thánh tuyệt đẹp, Đức Mẹ bồng Chúa Hài Nhi ban ơn cho nhân loại. Từ bên phải cung thánh đi xuống tầng hầm có ngôi mộ của cha thánh. Mọi người quỳ gối thinh lặng cầu nguyện. Chúng tôi đi dọc theo hành lang có nhiều bức ảnh giới thiệu về cha mẹ và gia đình của cha Piô. Đi lên cầu thang tầng 2 là Tu viện San Giovanni Rotonodo. Có những căn phòng lưu giữ đồ dùng của cha thánh lúc sinh thời. Từ áo dòng, áo lễ, chén lễ, hào quang đến giường ngũ và đồ dùng cá nhân vẫn còn nguyên vẹn. Cũng giống như các căn phòng của cha Thánh Gioan Vienney ở Ars, các vật dụng đều rất đơn sơ. Đặc biệt có 1 căn phòng với những tủ nhiều ngăn đựng các bức thư của nhiều người khắp thế giới gởi đến xin thánh nhân cầu nguyện vào 2 năm cuối đời. Hàng triệu triệu những lá thư được lưu giữ cẩn thận. Sau khi cầu nguyện trong nhà nguyện của Tu viện chúng tôi đến đền Thánh mới. Quãng trường rộng lớn xuôi xuống Nhà thờ mới. Công trình thật bề thế và hoành tráng. Dưới chân Thánh giá cao vời vợi có 8 quả chuông lớn, mỗi khi rung, ngân vang xuống tận thung lũng thị trấn Rotondo. 2. Đền Thánh Cha Piô mới Bên trái cung thánh có lối dẫn vào tầng hầm. Như một cung điện, đèn sáng rực với nhiều bức tranh theo nghệ thuật mosaic 2 bên tường. Mọi người ngất ngây chiêm ngắm những tác phẩm nghệ thuật diễn tả theo Tin Mừng. Ở đây có nhiều nhà nguyện nhỏ. Chúng tôi đến nhà nguyện đặc biệt, nơi có thi hài cha thánh Piô đặt phía sau bàn thờ dâng lễ. Trần nhà nguyện trang hoàng lộng lẫy sáng lung linh. Từng người thinh lặng đi qua đặt tay lên phần mộ và cúi đầu cầu nguyện. Sau đó tham quan nhiều căn phòng khác như một mê cung trong lòng đất. Phải có hướng dẫn viên dẫn đường chứ không thì lạc lối. Trở lại Nhà thờ Santa Maria della Grazie, chúng tôi dâng lễ. Cha Riễn, Giáo phận Phú cường chủ tế và giảng lễ. 3. Cuộc đời cha thánh Piô Năm 1903, ngài vào dòng Phanxicô. Một năm sau nhận tu phục Dòng Phanxicô Capucinô và có tên mới là Piô. Ngài được phong chức linh mục và được chuyển đến một số nơi. Đến năm 1916, ngài được chuyển đến San Giovanni Rotondo và đã ở đây suốt 52 năm. Cha được mọi người ngưỡng mộ vì lòng yêu mến nhiệt thành đối với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và được coi như là một nhà thần bí vĩ đại thời hiện đại. Cha Pio xuất thân từ nhà nghèo nên ngài rất yêu mến người nghèo. Cha ao ước có được bệnh xá để sau cuộc chiến sẽ cứu chữa những thương binh trở về, và cha cũng đã được toại nguyện do tin tưởng mãnh liệt vào Đức Maria ban ơn cứu giúp. Cha Pio có nhiều kinh nghiệm về những khả năng siêu nhiên với các phép lạ kèm theo: nhìn thấu suốt tâm hồn con người, nói tiên tri, ở hai nơi cùng một thời điểm, hương thơm đời sống thánh thiện, biết biện phân các thần khí, ngủ ít nhưng vẫn sống được, chữa người ta khỏi bệnh cách lạ lùng, được Chúa Giêsu và Mẹ Maria đến thăm, nhất là hằng ngày được rước lễ với Thiên thần bản mệnh của mình. Một trong những ân huệ siêu nhiên nổi tiếng nhất của ngài là được Chúa ghi Năm Dấu Thánh trên thân xác vào năm 1918 khi ngài cầu nguyện trước Thánh giá. Những vết thương đã gây cho ngài rất nhiều đau đớn và cũng rất nhiều ân ban kỳ diệu. Trong cuốn sách “Cuộc đời cha Piô” có kể lại rằng: “Cái yên tĩnh của ban đêm đã bao trùm tu viện khi Cha Piô còn ngồi giải tội cho các thầy. Đó là ngày 5 tháng Tám 1918, là ngày ngài không thể quên được vì nó bắt đầu sự thống khổ đặc biệt của ngài. Ngài giật mình kinh hãi khi thấy một người lạ tay cầm thanh kiếm dài và mỏng đứng ngay trước mặt. Thân thể như tê liệt, ngài không thể cựa quậy và mắt trừng trừng theo dõi mũi kiếm mà từ đó phát ra những tia lửa. Đột nhiên, ngài thất thanh kêu lên một tiếng lớn khi thanh kiếm như xuyên qua linh hồn ngài. Không biết làm sao mà ngài lấy lại được bình tĩnh và giải tán các thầy đang chờ xưng tội. Suốt đêm đó và qua một ngày và một đêm hôm sau, thân thể ngài yếu dần vì như có lưỡi kiếm bằng lửa đang cắt thân thể ngài ra từng mảnh. Hơn một tháng trôi qua, sau khi làm lễ vào sáng thứ Sáu, ngày 20 tháng Chín, sự kinh hoàng và thống khổ của ngài đến tột đỉnh ngoài sức chịu đựng của con người. Tuy nhiên, cơn ác mộng đó bắt đầu trong một giây phút thật bình thản và yên lặng. Ngài cảm thấy buồn ngủ, như thể ngài ngủ say đến độ không còn biết gì cả. Cái cảm giác kỳ lạ thấm dần qua từng sớ thịt và hầu như làm ngài mê đi. Và rồi, vị khách bí ẩn đã đến trong giấc mộng êm đềm, và chính lúc đó các giọt máu từ tay, chân và cạnh sườn của vị khách bắt đầu chẩy ra và đọng lại thành vũng trên sàn nhà. Ngay lập tức cái êm đềm của Cha Piô tan biến và tim ngài bắt đầu đập mạnh như muốn vỡ tung lồng ngực trong cái thân thể bất động. May mắn thay, tất cả dịu lại một cách thật bất ngờ cũng như khi xuất hiện, và thân thể mềm nhũn của ngài khụy xuống vũng máu. Cơn ác mộng tiếp diễn. Có một động lực nào như giục ngài đứng dậy, đi về phòng trước khi các linh mục trong tu viện trở về và có thể bắt gặp. Ngài cố nhấc mình lên, và thân thể quặn đau theo từng bước. Không hiểu làm sao mà ngài có thể lết qua cái hàng lang dài để về đến phòng. Ngài ngã vật xuống giường trong đau đớn và sợ hãi. Ngài rên rỉ, "Xin giúp con. Xin Chúa giúp con để hiểu." Hơi thở ngài đã đều hòa, nhưng cơn đau vẫn mãnh liệt. Khi đưa tay sờ vào cạnh sườn, ngài cảm thấy vết máu trên áo dòng ngày càng lan rộng, như bị xuất huyết tự bên trong. Đôi mắt mở to vì sợ hãi, ngài ngồi dậy và xem xét vết máu trên áo, tự hỏi không biết mình có chết vì vết thương này hay không. Ngài cầu xin, "Xin đừng để con khiếp sợ." Những giây phút chậm chạp trôi qua. Từ từ ngài lấy lại bình tĩnh và xem xét các vết thương. Không nghi ngờ gì cả, đó là những vết thương thật. Đó không phải là ác mộng hay ảo giác. Bắt đầu ngài nhận ra sự thật. Ngài được in năm dấu thánh là những vết thương có hình dạng và vị trí giống như các vết thương của Đức Kitô. Tâm trí ngài từ từ mở ra với thực tại, và cảm thấy khuây khỏa khi biết rằng các vết thương đó không nguy hiểm đến tính mạng. Nước mắt ngài tuôn tràn, và cảm tạ Thiên Chúa… Giáo Hội ghi nhận có khoảng 290 người được Chúa ban cho năm dấu thánh. Vị thánh nổi tiếng của thời đại là Thánh Phanxicô Assisi, sáng lập dòng Phanxicô. Thánh Phanxicô, khi là thầy sáu, được in năm dấu thánh vào ngày 17 tháng Chín 1224, trên núi Alvernia trong rặng Appenine, hai năm trước khi ngài chết. Những vết thương của cha Piô có mùi thơm nồng nàn của hoa tím, hoa huệ tây và hoa hồng. Trong lịch sử các thánh, sự kiện có mùi thơm thì không gì mới mẻ. Tay Thánh Đa Minh phát ra mùi thơm khi dân chúng hôn tay ngài, và Thánh Helena phát ra mùi thơm khi ngài rước lễ. Một số thân thể các thánh phát ra mùi thơm sau khi chết, như trường hợp của Thánh Coletta, Thánh Joseph Cupertino, và Thánh Martin de Porres. Bất cứ ai đang trong tình trạng mắc tội trọng, Thánh Philip Rôma đều ngửi thấy mùi hôi thối khi ngài đến gần, mặc dù thân thể người đó rất sạch sẽ. Trong trường hợp của Cha Piô, mùi thơm nói lên sự hiện diện an ủi của cha. Đó là để khuyến khích, chú ý đến điều nguy hiểm ngay lập tức, hay nhớ đến sự hiện diện, sự khuyên bảo và sự hướng dẫn của cha. Nhiều người nhận ra mùi thơm đó một cách riêng biệt, không phải ai ai cũng nhận thấy cùng một lúc”. Vì sự thánh thiện và ân huệ lớn lao Chúa ban cho cha Piô, nên ma quỷ đã huy động cuộc chiến dữ dội chống lại cha thánh trong suốt cuộc đời của ngài. Chúng tấn công thân xác ngài bằng những vết cắt, vết thâm tím và những dấu bị thương hữu hình khác. Tất cả những ai được cha Piô giúp đỡ đều tôn kính ngài. Cha thánh hết sức tận tâm đối với các linh hồn trong luyện ngục, có lần ngài nói: “Nhiều linh hồn đã chết ở trong luyện ngục hơn những linh hồn còn đang sống. Họ đã đến ngọn đồi này để chờ được tham dự thánh lễ và xin tôi cầu nguyện”. Cả đời cha Piô tận tụy giải tội cho các tín hữu và xin được nhiều ơn lành cho nhiều người. Cha thánh qua đời lúc 2 giờ 30 sáng ngày 23-9-1968, đang khi tay vẫn nắm chặt chuỗi Mân Côi và thốt lên tên cực trọng “Giêsu Maria”, trong phòng số một của tu viện San Giovanni Rotonodo, phía nam Italia. Xác cha Pio được bỏ trong một hòm bằng kẽm bọc gỗ sau đó được thay thế bằng một hòm bằng kim loại và có gắn tấm kính để cho giáo dân có thể trông thấy ngài. Chiều ngày 26-9-1968, quan tài cha Pio đã được rước qua các đường chính của thị trấn San Giovanni Rotondo với sự tham dự của 100.000 người. Ban tối quan tài được đưa xuống hầm nhà thờ Đức Mẹ Ban Ơn để an táng trong huyệt đào ngay trong nền nhà thờ. Phía dưới chiếc quan tài có đề “Francesco Forgione sinh tại Pietrelcina ngày 25-5-1887, qua đời tại San Giovanni Rotondo ngày 23-9-1968”. Từ ngày đó trở đi, cứ vào ngày 22 tháng 9 hằng năm tín hữu khắp nơi lại hành hương về thị trấn San Giovanni Rotondo để tham dự đêm canh thức kỷ niệm ngày cha Pio qua đời. Ngày 23-9-1969, Đức Cha Cunial, Tổng Giám Mục Manfredonia cho phép dòng Capucino hèn mọn mở cuộc điều tra liên quan tới vị tôi tớ Chúa. Tiến trình án phong chân phước được khởi sự ngày 20-3-1983. Trong dịp hành hương San Giovanni Rotondo ngày 25-5-1987, Đức Gioan Phaolô II đã giới thiệu cha Piô với thế giới như là mẫu gương của linh mục. Từ đó trở đi tín hữu đến hành hương đông một cách ngoại thường. Người ta phổ biến sách báo viết về cha Pio, lấy tên cha Pio đặt cho các đài kỷ niệm và đường phố, hay trường học hoặc nhà thương. Năm 1990, kết thúc các tìm hiểu cuộc đời cha Pio. Năm 1997, các cố vấn của Bộ Phong Thánh đồng thanh chấp nhận các nhân đức anh hùng của vị tôi tớ Chúa.Và sau khi có phép lạ được thừa nhận, ngày 2-5-1999, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã phong chân phước cho cha Pio, trong thánh lễ trọng thể cử hành tại thềm đền thờ thánh Phêrô, với sự tham dự của gần 400.000 tín hữu. Vào năm 2001, ủy ban bác sĩ thừa nhận phép lạ khỏi bệnh tức khắc của em Matteo Coltella, bị sưng màng óc cấp tính là hiện tượng không thể giải thích được trên bình diện khoa học. Năm sau đó, Giáo Hội thừa nhận đó là phép lạ và ngày 16-6-2002, Đức Gioan Phaolo II đã chủ sự lễ phong hiển thánh cho cha Pio. Hai năm sau đó đền thánh mới được khánh thành tại San Giovanni Rotondo. 4. Cha Thánh Piô và các Đẳng Linh Hồn. Cuộc đời cha Piô là trang sử lạ thường ghi dấu các cuộc hiện ra của Thiên Thần, Các Thánh, Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Các Đẳng Linh Hồn. Có thể nói được rằng, Cha thánh Pio sống cùng lúc ở hai thế giới: một hữu hình và một vô hình, thiêng liêng. Xin trích thuật 3 câu chuyện Linh Hồn Luyện Ngục hiện về xin Cha thánh Pio cầu nguyện cho. Một buổi tối, Cha Pio đang nghỉ ở tầng trệt của Cộng Đoàn nơi căn phòng dành đón tiếp khách lạ. Lúc ấy Cha Pio chỉ có một mình và vừa đặt lưng nằm xuống thì bất thình lình một người đàn ông xuất hiện, mình trùm kín chiếc áo choàng đen. Ngạc nhiên, Cha Pio tức khắc đứng bật dậy và hỏi cho biết ông là ai và muốn gì. Người khách lạ cho biết ông là Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội. Ông nói: Con là Pietro Di Mauro, tức Nicola và có biệt danh “Precoco”. Con bị chết trong trận hỏa hoạn xảy ra vào đêm 18-9-1908, tại chính Tu Viện này, lúc ấy bị truất hữu và biến thành Viện Tế Bần. Con bị cháy giữa các ngọn lửa, ngay trên tấm nệm rơm, lúc đang ngủ say, trong căn phòng số 4. Con hiện về từ Luyện Ngục. Thiên Chúa Nhân Lành cho phép con đến xin Cha dâng một Thánh Lễ với ý chỉ cầu cho con vào sáng ngày mai. Nhờ Thánh Lễ này con mới có thể vào được Thiên Đàng. Cha Pio hứa sẽ dâng Thánh Lễ cầu cho ông. Chính Cha kể lại như sau. Phần tôi, tôi muốn đích thân tháp tùng Linh Hồn Luyện Ngục ra tận cửa Tu Viện. Và tôi chỉ ý thức rõ ràng mình đã nói chuyện với Linh Hồn Luyện Ngục khi ra tới thềm, bởi vì, người đàn ông đang đi bên cạnh tôi bỗng nhiên biến mất. Tôi thành thật thú nhận lúc ấy tôi cảm thấy hoảng sợ. Tôi đi thẳng đến phòng Bề Trên là Cha Paolino da Casacalenda. Cha Bề Trên nhận ra nét kinh hoảng của tôi. Sau khi nghe tôi giải thích và xin phép dâng Thánh Lễ vào sáng hôm sau cầu cho Linh Hồn Luyện Ngục, Cha Bề Trên hiểu lý do và chấp thuận ngay lời xin. Vài ngày sau, vì bị tính tò mò thúc đẩy, Cha Bề Trên Paolino muốn làm cuộc kiểm chứng. Cha ra tòa thị chính thành phố San Giovanni Rotondo và xin phép xem Cuốn Sổ Tử của thành phố vào năm 1908. Và đúng như lời tôi kể, trong Sổ Tử tháng 9 năm 1908 có ghi mấy hàng: Ngày 18 tháng 9 năm 1908, trong trận hỏa hoạn Viện Tế Bần có một người bị chết mang tên Pietro di Mauro, tức Nicola. Cha thánh Pio kể một câu chuyện khác. Một buổi tối lúc cầu nguyện một mình nơi nhà nguyện bỗng tôi trông thấy một thầy trẻ tuổi đứng nơi bàn thờ chính. Thầy có vẻ như đang lau chùi các chân nến và sửa lại các bình hoa. Lúc ấy là giờ ăn tối. Tôi đinh ninh người lo bàn thánh chính là thầy Leone nên tôi tiến lại gần và nói: - Thầy Leone à, đang giờ ăn tối, thầy xuống phòng ăn đi, chứ đâu phải giờ lau bụi và sửa soạn bàn thánh! Nhưng một giọng nói - không phải của thầy Leone - trả lời: - Con không phải thầy Leone! Tôi hỏi lại: - Vậy thầy là ai? Tiếng nói trả lời: - Con là tu sĩ cùng dòng với Cha và từng là tập sinh sống ở Tu Viện này. Đức vâng lời dạy con phải luôn luôn giữ gìn bàn thánh thật sạch và thật ngăn nắp. Đáng tiếc, con thường bê trễ trong bổn phận và thiếu lòng tôn kính đối Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm. Chính vì tội thiếu tôn thờ cách trầm trọng này mà cho đến nay con vẫn còn bị hình phạt trong Lửa Luyện Hình. Nhưng giờ đây Thiên Chúa Từ Nhân, trong lòng thương xót vô biên của Ngài, cho phép con hiện về với Cha. Chính Cha là người có thể thu ngắn thời gian con phải chịu giam cầm trong Lửa Luyện Ngục. Xin Cha vui lòng giúp con. Tôi nghĩ mình quả thật quảng đại đối với Linh Hồn đang đau khổ nơi Lửa Luyện Tội khi nhanh nhẹn hứa rằng: “Anh sẽ chỉ còn ở trong Lửa Luyện Tội cho đến sáng mai lúc dâng Thánh Lễ”. Nào ngờ Linh Hồn này thét lên: “Thật là tàn nhẫn!”. Thét xong câu đó Linh Hồn biến đi. Tiếng than khóc kinh khiếp của Linh Hồn như lưỡi gươm đâm xuyên trái tim. Tôi thật đau đớn và mãi mãi như nghe tiếng thét vang vọng bên tai. Tôi, nhờ sự ủy quyền đặc biệt của Thiên Chúa, có thể giúp Linh Hồn đi thẳng về Trời, trái lại, tôi đã kết án giam giữ Linh Hồn ở lại trong Lửa Luyện Ngục thêm một đêm nữa cho tới sáng mai! Câu chuyện thứ ba xảy ra vào buổi tối tháng 2 năm 1922, nơi Tu Viện San Giovanni Rotondo. Chính Cha Pio kể lại. Tối hôm ấy tôi xuống phòng chung nơi có đốt lửa để sưởi. Bỗng tôi trông thấy 4 tu sĩ, chưa bao giờ gặp, đang ngồi chung quanh ngọn lửa, đầu phủ mũ cappuccio và giữ thinh lặng. Tôi cất tiếng chào: “Sia lodato Gesù Cristo - Ngợi khen Đức Chúa Giêsu Kitô”, nhưng không ai trả lời. Ngạc nhiên, tôi chăm chú nhìn kỹ 4 tu sĩ để xem họ là ai thì thấy rằng đó là 4 tu sĩ lạ, tôi chưa bao giờ gặp. Cùng lúc, tôi có cảm tưởng các tu sĩ này đang chịu đau khổ. Tôi lập lại lời chào, vẫn không ai trả lời. Tôi trở lên phòng Cha coi nhà khách và hỏi xem có tu sĩ khách nào đến Tu Viện không. Nghe vậy, Cha Bề Trên, lúc ấy là Cha Lorenzo da San Marco in Lamis trả lời ngay: - Cha Pio à, đâu có tu sĩ khách nào đến đây vào một đêm đông tuyết lạnh như thế này! Tôi nói với Cha coi nhà khách: - Cha à, có 4 tu sĩ ngồi sưởi nơi phòng chung. Tôi cất tiếng chào nhưng không ai trả lời. Tôi nhìn kỹ thì thấy đó là các tu sĩ lạ! Cha coi nhà khách nói: - Có lẽ khách lạ đến mà tôi không biết chăng? Vậy chúng ta cùng xuống xem! Khi chúng tôi trở lại phòng chung thì không còn ai. Phòng chung vắng lặng như tờ. Tôi hiểu ngay đây là 4 tu sĩ quá cố, đang làm việc đền tội nơi xưa kia họ xúc phạm đến Thiên Chúa. Tôi thức trắng suốt đêm đó để cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể và xin Chúa cho 4 tu sĩ sớm được giải thoát khỏi chốn Luyện Hình và về Thiên Đàng vui hưởng Nhan Thánh Chúa.... “Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu. Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài. Mong đợi Chúa, con hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Hồn con trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông. Hơn lính canh mong đợi hừng đông, trông cậy Chúa đi, Israel hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa. Chính Người sẽ cứu chuộc Israel cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn” (TV130). (”Grande Opera Mariana GESÙ E MARIA”, Aprile-Giugno 2007 n.2 Anno VIII, trang 19-20 + P. Alessio Parente, ”Padre Pio e le anime del Purgatorio”, 1999, trang 158; Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt). 5. Mở mộ cha thánh Pio để chuẩn bị trưng bày cho tín hữu kính viếng thi hài thánh nhân (Avvenire 4-3-2008; Linh Tiến Khải). Lúc 10 giờ tối Chúa Nhật 2-3-2008, Đức Cha Domenico D'Ambrosio, Tổng Giám Mục giáo phận Malfredonia đã chủ sự lễ nghi mở mộ thánh Pio Pietrelcina, để kiểm chứng tình trạng thi hài thánh nhân và áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo tồn thánh tích cho hậu thế. Trở lại với lễ nghi mở mộ cha thánh Pio năm dấu: lễ nghi đã bắt đầu với bài đọc thư thứ I thánh Phêrô Tông Đồ và một đoạn thư của Cha Thánh Pio. Sau đó các thợ nề đã di chuyển tấm đá cẩm thạch mầu xanh trên mộ Cha Pio và đưa quan tài lên. Đức Cha D'Ambrosio và hai vị phụ tá kiểm điểm sự nguyên vẹn của 6 triện bằng xi đỏ đóng lên quan tài tối ngày 26-9-1968, đập vỡ và gỡ các triện đó ra. Quan tài được mở ra và Đức Tổng Giám Mục xông hương di hài và mọi người hát kinh Te Deum Tạ Ơn Chúa. Hiện diện trong lễ nghi cũng có các thân nhân của Cha Thánh Pio và một số Giám Mục lân cận. Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn Đức Tổng Giám Mục Domenico D'Ambrosio về việc mở mộ thánh Pio thành Pietrelcina và trưng bầy cho tín hữu kính viếng bắt đầu từ tháng 4 tới đây. Đức Tổng Giám Mục cũng là vị đại diện Tòa Thánh trông coi đền thánh Pio, là nơi hằng năm có tới 7 triệu tín hữu đến hành hương. Hỏi: Thưa Đức Cha, xin Đức Cha cho biết một vài cảm tưởng sau khi Đức Cha chủ sự lễ nghi mở mộ cha thánh Pio tối ngày mùng 2 tháng 3 vừa qua? Đáp: Chắc chắn giây phút chúng tôi đã sống là một thời điểm đặc biệt và đầy cảm xúc. Riêng tôi đã cảm nghiệm được một cách sâu xa cái phong phú ngoại thường nơi sự thánh thiện của Cha Pio, và sự ít ỏi và hạn hẹp của chúng ta tất cả, mà trong nhiều múc độ và cương vị khác nhau chúng ta đều được mời gọi tiếp tục công trình của người. Cũng như tôi đã nói hôm trước, tôi nhớ mãi những gì Đức Gioan Phaolo II nhắn nhủ khi gửi tôi tới đây: ”Đức Cha là người giữ gìn gia tài của Cha Pio”. Gia tài đích thật và lớn lao nhất đối với một người, được mời gọi hướng dẫn với tinh thần trách nhiệm một giáo đoàn và các công trình của thánh Pio, là sự thánh thiện. Vì thế khi đứng trước thi hài của thánh Pio, là người trong hơn 50 năm đã khiến cho cuộc sống của mình tỏ lộ mầu nhiệm cuộc Đóng Đanh của Chúa, chúng ta cảm thấy mình bé nhỏ, không được chuẩn bị, không thích hợp để làm cử chỉ đơn sơ ấy. Hỏi: Xác cha thánh Pio ở trong tình trạng nào thưa Đức Cha? Đáp: Nếu có thể dùng một tính từ thì tôi xin nói rằng xác của người ở trong tình trạng ”dè dặt”. Dĩ nhiên nếu qúy vị hỏi cảm tưởng của tôi thì tôi biết nói gì bây giờ? Chắc chắn là tôi đã muốn trông thấy gương mặt của cha Pio. Nhưng cách đây 40 năm đã không có việc săn sóc nào cả và giải pháp vội vã của việc chôn cất đã khiến cho kết qủa không có thể nói là được ”hoàn hảo”. Tuy nhiên chúng ta có xác của thánh Pio: sọ và các chi thể phía trên một phần là xương, các ngón tay còn nguyên, một chân đã khô đét. Và phần còn lại của cơ thể như các chuyên viên đã ghi nhận, các tế bì bị dính vào lớp dưới của hòm. Tóm lại cần phải thực hiện nhiều can thiệp để bảo đảm việc duy trì thích đáng xác của cha thánh và trưng bầy cho các tín hữu sùng mộ người kính viếng. Hỏi: Tại sao giáo quyền đã đi tới chỗ quyết định mở mộ cha thánh Pio thưa Đức Cha? Đáp: Như qúy vị biết trong Giáo Hội có truyền thống xác nhận thi hài của các vị ứng viên của các cuộc phong chân phước hay phong thánh, cũng như truyền thống cứ thỉnh thoảng lại tái xác nhận thi hài các thánh xa xưa trong qúa khứ. Chúng ta chỉ nghĩ tới 3 lần xác nhận thánh tích của thánh Phanxicô thành Assisi trong khoảng thời gian 800 năm. Trong trường hợp của cha thánh Pio, thì hơi ngoại thường một chút, vì việc thừa nhận đã không được làm trước khi phong chân phước và phong thánh. Tôi đã không biết các lý do đã ngăn cản việc thừa nhận đó, nhưng sau bao nhiêu năm thì người ta cảm thấy cần phải duyệt xét tình trạng duy trì xác cha thánh Pio. Trong nghĩa đó đã có lời xin đồng nhất của toàn tỉnh dòng Anh em Capucino hèn mọn, gửi Bộ Phong Thánh, qua trung gian vị tổng thỉnh nguyện viên, kèm theo xác tín và sự liên kết của tôi. Rồi đã có huấn thị và sắc lệnh giao phó cho tôi nhiệm vụ thành lập tòa án giáo phận để tiến hành việc thừa nhận xác cha thánh theo các chỉ dẫn, mà Bộ Phong Thánh đã gửi cho tôi. Hỏi: Phải cần bao nhiêu thời gian cho các giảo nghiệm và chôn xác cha thánh Piô trở lại thưa Đức Cha? Đáp: Liên quan tới các tiến trình duy trì xác cha thánh Pio, theo các chuyên viên thì cần phải có từ 30 đến 40 ngày. Vì thế chúng tôi mới xác định ngày 24 tháng 4 là ngày bắt đầu trưng bầy xác cha thánh Piô cho mọi người kính viếng. Còn việc chôn xác cha thánh trở lại, thì ngoài việc để xác ngài trong hầm nhà thờ như cho tới nay, chúng tôi chưa có quyết định nào. Ban đầu thì đã chỉ nghĩ tới việc trưng bầy xác cha thánh cho tín hữu kính viếng trong vài tháng, nhưng vì có nhiều lời xin của tín hữu khắp nơi trên thế giới, nên phải kéo dài thời gian cho các cuộc kính viếng, có lẽ ít ra là một năm. Hỏi: Thưa Đức Cha, mộ mới có giống như mộ hiện nay hay không? Đáp: Chúng tôi cũng chưa biết mộ mới sẽ ra sao. Hướng được lựa chọn là một hòm kín, theo gương Đấng sáng lập dòng là thánh Phanxicô Khó Khăn. Như mọi người chúng ta đều biết là xương thánh Phanxicô được đựng trong một hòm bằng đá đóng kín. Hỏi: Sự kiện mở huyệt để kiểm chứng xác cha thánh Pio đã kéo theo một vài tranh luận, rất là khó chịu, có đúng thế không thưa Đức Cha? Đáp: Rất tiếc đó là sự thật. Có một nhóm nhỏ phản đối việc cho mở mộ và kiểm chứng xác cha thánh Pio, nhưng họ lại có thể tạo ra sự ồn ào trên các phương tiện truyền thông, vượt ngoài mọi dự đoán. Nếu qúy vị đã hiện diện tại San Giovanni Rotondo chiều Chúa Nhật mùng 2 tháng 3 vừa qua, thì sẽ trông thấy hàng trăm tín hữu tới đền thánh với nến sáng trong tay để tỏ lòng sùng mộ cha thánh Pio và tỏ tình liên đới với Giám Mục và các tu sĩ dòng Capucino, trong các tháng qua đã bị mạ lị, vu khống nặng nề. Chúng tôi đã bị tố cáo là có các hành động phạm thánh, khủng khiếp, rùng rợn. Nhưng điều mà chúng tôi đang làm là một cử chỉ của lòng sùng kính, tế nhị và yêu thương. Nhưng chiến dịch chửi bới và vu khống đó vẫn tiếp tục không ngớt. Phải kiên nhẫn thôi, vì chúng tôi không thể dùng cùng các thứ vũ khí như thế, nhưng mà trên bình diện pháp luật dân sự Italia nó cũng không có ý nghĩa: có liên quan gì giữa việc trưng giáo luật và việc ra trình bầy vụ việc giữa tòa án dân sự? Dĩ nhiên là có cái gì không ổn thỏa rồi, nhưng mà nó khiến cho người ta khó chịu. Về phần tôi thì tôi nói với họ rằng: Anh chị em yêu mến cha thánh Piô phải không? Chúng tôi cũng thế, chúng tôi yêu mến cha thánh Pio. Chúng tôi là những người giữ gìn gia tài này và chúng tôi muốn bảo đảm và duy trì gia tài đó trong các cách thế tốt đẹp nhất, chính vì chúng tôi yêu kính cha thánh Piô. 6. Toàn bộ một giáo xứ Chính Thống đồng loạt theo đạo Công Giáo sau những phép lạ của cha Piô Năm Dấu Thánh(x.Vietcatholic.org 9-12-2007). Lòng mộ mến của người dân Italia nói riêng và người Công Giáo trên thế giới nói chung đối với cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh đã gia tăng rất nhiều sau biến cố toàn bộ một giáo xứ Chính Thống Giáo tại Rumani đã đồng loạt theo đạo Công Giáo nhờ phép lạ của ngài. Biến cố chấn động Giáo Hội Chính Thống Rumani này đã được ký giả Italia Renzo Allergi tường thuật, được Zenit truyền đi hôm 28/11, và được đăng tải trên trang nhất nhiều báo chí Công Giáo trên thế giới. Bà Lucrecia Tudor, một phụ nữ 71 tuổi, người Rumani theo Chính Thống Giáo có hai người con trai là linh mục Victor Tudor và họa sĩ Mariano Tudor. Linh mục Victor là linh mục Chính Thống Giáo, chánh sở giáo xứ Pesceana, gần thành phố Valcea, thuộc miền Trung Nam Rumani. Trong khi đó họa sĩ Mariano kiếm được việc làm tại các nhà thờ Công Giáo ở thủ đô Rôma, Italia. Năm 2002, các bác sĩ tại Rumani chẩn đoán bà Lucrecia bị ung thư ở phổi bên trái và khả năng giải phẩu để cắt bỏ khối u là không thể được vì khối u đã quá lớn. Các bác sĩ cho biết thêm là bà chỉ còn sống được mấy tháng nữa và khuyên cha Victor nên bắt đầu nghĩ đến vấn đề hậu sự cho bà. Cha Victor đã cầu cứu người em hy vọng rằng các bác sĩ tại thủ đô Rôma của Ý có thể tìm ra một phương cách trị liệu tốt hơn chăng. Họa sĩ Mariano đã tiếp xúc với các bác sĩ Italia và đã được khuyên nên mang bà cụ sang Rôma trị liệu. Tuy nhiên, sau những cuộc khám nghiệm, các bác sĩ Italia cũng đã đi đến cùng một kết luận như các bác sĩ tại Rumani: bệnh tình của bà cụ đã hết thuốc chữa và khối u đang tăng tốc độ bành trướng. Bà cụ chỉ được cho toa mua những thuốc cầm đau. Một phần vì bà Lucrecia không nói được tiếng Ý, một phần vì cũng muốn được gần gũi mẹ nhiều hơn trước cuộc sinh ly tử biệt, Mariano đã mang mẹ theo đến các nhà thờ nơi anh đang vẽ những phù điêu. Trong nhà thờ bà cụ đi tới đi lui xem các ảnh tượng cho hết ngày hết giờ. Một ngày kia bà cụ chú ý đến một bức tượng lớn mà bà tỏ ra rất thích. Bà hỏi anh Mariano xem tượng ấy mô tả ai. Mariano đã trình bày ngắn gọn về tiểu sử của cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh cho bà. Từ ngày hôm sau, Mariano thấy bà cụ suốt ngày chỉ ngồi bên tượng cha Thánh Piô thầm thì cầu nguyện và nói chuyện như thể với một người đang sống. Hai tuần sau đó, Mariano đưa bà cụ đến một bệnh viện để khám theo lời dặn của bác sĩ. Tại đây, vị bác sĩ kinh ngạc vì khối u đột nhiên biến mất hoàn toàn. Mariano đã đưa bà cụ trở lại Rumani và các bác sĩ ở đó cũng nhìn nhận khối u đã hoàn toàn biến mất mà không thể giải thích trên phương diện y khoa. Trong khi đó, bà Lucrecia khẳng định rằng đó là chính là nhờ phép lạ của cha Thánh Piô mà bà đã cầu xin tha thiết với ngài. Cha Victor nói với ký giả Renzo Allergi: “Sự chữa lành lớn lao cho mẹ tôi đã được thực hiện nhờ cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh, dù mẹ tôi lúc đó là một người Chính Thống Giáo. Sự kiện này làm tôi xúc động sâu xa”. Cha Victor nói tiếp: “Tôi đã bắt đầu đọc tiểu sử của vị thánh người Italia này. Tôi cho anh chị em giáo xứ biết những điều đã xảy ra. Tất cả mọi người đều biết rõ mẹ tôi và mọi người đều biết. Chúng tôi đã bôn ba sang Italia để cố làm phẫu thuật cho bà, và họ cũng biết là giờ đây bà đã về đến nhà, được chữa lành mà không cần phẫu thuật gì sất cả”. “Trong giáo xứ của tôi, anh chị em giáo dân bắt đầu biết đến và yêu mến cha Thánh Piô. Chúng tôi tìm đọc mọi tài liệu liên quan đến ngài. Sự thánh thiện của ngài chinh phục con tim chúng tôi. Cùng lúc đó, trong giáo xứ một số người đau yếu bắt đầu nhận được ơn lạ của ngài. Trong số anh chị em chúng tôi đã dấy lên một nhiệt tình muốn trở lại đạo Công Giáo. Dần dà, chúng tôi đi đến quyết định dứt khoát là tất cả giáo xứ theo đạo Công Giáo để được gần gũi với thánh Piô”. Biết bao nhiêu câu chuyện hấp dẫn lạ lùng về cuộc đời và ơn ban của cha thánh Piô được chúng tôi kể cho nhau nghe trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và cảm tạ Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Ban Ơn. Rời Rotondo với nhiều ơn lành của cha thánh, chúng tôi lên đường đi Assidi, quê hương thánh Phanxicô và thánh Clara. (còn tiếp) |
Hành hương Âu châu: Cha Thánh Piô ở Rotondo
Hành Hương Châu Âu - Roma
Năm Đức Tin 2013: Hành Hương Châu Âu - Roma
Doàn hành hương chúng tôi có 76 thành viên, gồm 15 linh mục và 61 giáo dân từ nhiều giáo xứ thuộc Giáo phận Sài gòn. Lm Giuse Nguyễn Đức Quang, Chánh xứ Nghĩa Hòa – Hạt Trưởng Hạt Chí Hòa – Giáo Phận Sài Gòn, tổ chức chuyến hành hương Năm Đức Tin, theo lộ trình: Roma – Rotondo – Assisi – Padova – Venice – Milan - Paris – Lisieux – Lourdes – Fatima – Lisbon, từ ngày 14/04/2013 đến ngày 01/05/2013. Công ty du lịch KLP (Khang Long Phúc) Sài Gòn đồng hành chuyến hành hương này. Xem hình ảnh Ngày 11.10.2011, bằng Tông Thư “Cánh Cửa Đức Tin”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã công bố thiết lập Năm Đức Tin trong Hội Thánh Công Giáo, từ ngày 11.10.2012 (kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Vatican II) đến ngày 24.11.2013 (kỷ niệm 20 năm công bố sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo). “Năm Đức Tin sẽ là một cơ hội thuận tiện để tăng cường việc cử hành Đức Tin”. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Cần thiết phải tái khám phá cuộc hành trình đức tin, vừa để làm sáng lên niềm vui và nhiệt tâm đổi mới khi gặp gỡ Chúa Kitô, vừa nâng đỡ đức tin của các tín hữu là những người trong các thử thách hằng ngày, không ngừng biểu hiện can đảm và tin tưởng phó thác đời mình cho Chúa. Thánh Bộ Giáo lý Đức tin có bản hướng dẫn Mục vụ cho Năm Đức Tin, trong đó Giáo hội chỉ ra những việc phải làm trong Năm Đức tin là:
Hành hương đến Đất Thánh, Rôma, các trung tâm hành hương kính Đức Mẹ, kính các Thánh để thêm xác tín vào những điều mình đã nghe, đã đọc, nhờ đó đức tin được mạnh mẽ và tầm hiểu biết được mở rộng hơn. Từ Tân Sơn Nhất đến Sân bay quốc tế Dubai của đất nước Tiểu vương quốc Ả rập đúng 7 giờ bay. Sau khi nghĩ ngơi tại khách sạn của sân bay, chúng tôi tiếp tục hành trình thêm 7giờ bay nữa mới đến sân bay Roma. Xe công ty du lịch địa phương đón đoàn tại phi trường. Vì đoàn hành hương quá đông nên chúng tôi chia làm 2 nhóm là mũ đỏ, mũ xanh và đi 2 xe Bus. Bắt đầu cuộc hành trình 17 ngày xuyên qua nước Ý – Pháp –Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Chúng tôi đã đến thăm 47 Nhà Thờ vừa mang tính cổ kính và ý nghĩa lịch sử vừa giàu chất Tin Mừng hòa quyện trong các nền văn hóa địa phương. Hành hương và cầu nguyện tại 2 Trung Tâm Thánh Mẫu là Lộ Đức và Fatima. Mỗi nơi hành hương đều có hướng dẫn viên riêng. Mỗi nơi đến đều thấy sức sống mạnh mẽ của Giáo Hội. Ở đó gợi lên trong tâm hồn chúng tôi bao tâm tình ngưỡng mộ thán phục và thành kính nguyện cầu.Một chuyến đi đầy dấu ấn và kỷ niệm. Hàng ngày, chúng tôi đều dâng thánh lễ tại một Nhà thờ đã đăng ký trước và chụp hình chung lưu niệm. Đặc biệt tại Lộ Đức chúng tôi có 2 đêm đi kiệu Đức Mẹ, suy niệm và lần Chuỗi Mân Côi cùng hàng chục ngàn khách hành hương khắp thế giới. Tại Fatima chúng tôi có 1 đêm lẫn Chuỗi và kiệu Đức Mẹ cùng hàng ngàn người khắp nơi tề tựu về bên Mẹ, cùng với đoàn hành hương người Việt từ bên Úc qua, chúng tôi được vinh dự cầu nguyện và lẫn chuỗi bằng tiếng Việt. Thời tiết bên Âu Châu đang chuyển qua mùa hè mà vẫn quá lạnh, có ngày xuống chỉ còn 2 độ, mỗi người phải mặc nhiều lớp áo ấm mới khỏi run người. Mỗi nơi hành hương gợi lên bao cảm xúc, bao tâm tình yêu mến và tạ ơn Thiên Chúa, Đức Mẹ và tri ân Giáo Hội. I. RÔMA Khi đọc lịch sử của đế quốc Rôma, ai cũng trầm trồ thán phục về độ dài thời gian và mức độ bành trướng của một đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại. Một đế chế trải rộng trên phạm vi vượt ra ngoài ranh giới Châu Âu để vươn đến tận vùng Trung Cận Đông và Phi Châu. Sử sách và địa danh di tích còn lưu lại một thời huy hoàng của đế quốc Rôma. Sự hùng mạnh vô song suốt chiều dài lịch sử trên diện rộng của khắp châu lục, đế quốc La Mã chắc hẳn phải tồn tại muôn năm. Thế nhưng đế quốc ấy cũng đã sụp đổ trong thời gian. Ngày nay các di tích lừng danh một thời vẫn còn lại theo năm tháng dòng đời. Các môn đệ của Chúa Giêsu đã mạo hiểm đặt chân đến kinh đô Rôma của đế quốc để rao giảng Tin Mừng. Nổi bật nhất là Thánh Phaolô vị Tông đồ dân ngoại và Thánh Phêrô, trưởng Tông đồ đoàn.Nhờ sức mạnh của Chúa Phục Sinh và quyền năng Chúa Thánh Thần tác động, những môn đệ chỉ là con người yếu đuối và tầm thường đã trở nên nhân chứng sống động xây dựng Giáo hội của Chúa Kitô. Giáo Hội tồn tại và phát triển qua dòng lịch sử. Chúa Giêsu đã từng khẳng định: “Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16, 18). Đến thăm những Đại Vương Cung Thánh Đường ở Roma, chúng tôi thấy được quyền năng Thiên Chúa và kỳ công của trí tuệ con người, cảm nhận sức mạnh của đức tin và sự nhiệt thành của đức mến nơi các tín hữu qua nhịp của thời gian. Roma là Thủ đô tôn giáo của đạo Công Giáo và là chiếc nôi của của nền văn minh Kitô giáo. Lịch sử Thành phố này bắt nguồn từ một nhóm dân cư sống bằng nghề chăn nuôi và trồng cấy trên đồi Palatino. Họ thuộc các sắc dân Latium, Sabin và Etrus. Có nhiều truyền thuyết về Thành phố. Roma có thể là tên của một người Etrus vị vọng. Theo tục truyền, Roma do hai anh em Romulus và Remus, thành lập năm 753 trước Công nguyên. Cha của họ là thần chiến tranh Marx và mẹ là nữ thần Vênus. Hai anh em bị song thân đem bỏ trôi trên dòng sông Tiber. Khi thủy triều xuống, chiếc nôi của hai đứa bé dạt vào chân đồi Palatino. Chúng được một con chó sói cái cho bú sữa cho đến khi một người tiều phu tìm thấy và mang về nhà nuôi. Do đó, biểu tượng của Roma là tượng con chó sói cái cho Romulus và Remus bú sữa. Khi thành lập Thành phố năm 753, Romulus cho cày một vòng ranh giới chung quanh. Ai muốn ra khỏi Thành phố phải qua cổng chính chứ không được phép đi ngang qua vòng đai bao quanh. Ai trái lệnh sẽ phải chết. Người em là Remus không tuân lệnh nên bị xử tử hình. Vì thế Thành phố có tên là Roma. Roma mang nhiều dấu vết lịch sử từ ngàn xưa trong các kho tàng nghệ thuật, kiến trúc và tôn giáo. Roma nổi tiếng với bộ luật, công trình kiến trúc và nền văn hóa mang tính tôn giáo và chính trị ảnh hưởng đến cả trong và ngoài đế quốc Roma, xưa cũng như nay. Roma là một trong những thành phố duy nhất trên thế giới đã từng chứng kiến rất nhiều biến cố lịch sử, chính trị và tôn giáo xảy ra. Do đó, người ta gọi Roma là “Thành phố vĩnh cửu” với những nét đặc trưng giữa thời xưa và thời nay, giữa thế tục và tôn giáo, giữa con người và xã hội. Chúng tôi thăm Nhà thờ đầu tiên ở Roma là Tiểu Vương Cung Thánh Đường Thánh Lôrensô Ngoại Thành, Đại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành và dâng lễ tại Nhà Thờ Domine Quo Vadis. 1. TIỂU VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH LÔRENSÔ NGOẠI THÀNH 2. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH PHAOLÔ NGOẠI THÀNH a. Nguồn gốc: Đền thờ này gợi lên cho chúng tôi nhớ đến những năm tháng thăng trầm của vị Tông Đồ dân ngoại với ba cuộc hành trình truyền giáo ở khắp vùng Địa Trung Hải. Khi Hoàng đế Nêrô chủ ý cho đốt thành Roma vào năm 64 để xây dựng lại thủ đô đế quốc rồi bị dân Roma phản ứng, ông liền đổ tội cho các Kitô hữu là thủ phạm. Thánh Phaolô cũng bị tố cáo là thủ lãnh một phong trào tập thể làm phương hại đến an ninh nhà nước Roma. Ngài bị bắt trở lại và giam tại nhà tù, rồi sau đó bị kết án xử trảm. Theo chứng từ của Eusebio, thánh Phaolô tử đạo vào giữa tháng 7 năm 67 tới tháng 6 năm 68. b. Lịch sử Đền thờ Thi hài Thánh nhân được đặt trong ngôi mộ cạnh đường Ostia, cũng như thi hài của nhiều tội nhân bị kết án tử hình khác. Chẳng bao lâu mộ thánh nhân trở thành nơi hành hương nổi tiếng ở Roma. Vì thế trên mộ ngài, người ta cho xây một nhà tưởng niệm nhỏ (cella memoriae). Sau này Hoàng đế La mã trở lại đạo công giáo là Constantino đã cho khởi công xây dựng ngôi Thánh đường đầu tiên trên mộ thánh Phaolô và đến ngày 18.11.324 Đức Giáo Hoàng Silvestro I (314- 335) đã thánh hiến. Kích thước của ngôi Thánh đường nguyên thủy tương đối nhỏ bé. Nửa thế kỷ sau khi hoàng đế Constantino qua đời, vào năm 386 ngôi Thánh đường to lớn hơn được xây cất lại tại chính địa danh này. Các hoàng đế Valentiano II, Teodosio và Arcadio đã viết cho đô trưởng Roma là Sallustio để được sự phê chuẩn của Thượng Viện và nhân dân Roma về dự án xây một ngôi Đền thờ lớn hơn, thay thế cho ngôi Nhà thờ nhỏ bé của Hoàng đế Constantinô trước tình hình hành hương càng ngày càng đông đến địa danh này. Công trình được hoàn thành dưới thời hoàng đế Onorio vào năm 395. Đền thờ đó có 5 gian và có 4 hàng cột phân ra, gồm 80 cột bằng đá cẩm thạch. Trước khi Đền thờ Thánh Phêrô được xây dựng thì Đền thờ này là đền thờ lớn nhất của Kitô giáo thời đó. Suốt 15 thế kỷ, Đền thờ này được chăm sóc cẩn thận. Đặc biệt, vào giữa thế kỷ thứ 5, Thánh Giáo Hoàng Leo Cả cho tu bổ và trang hoàng Đền thờ này đẹp hơn. Nhưng ngày 15 và 16 tháng 7 năm 1823, do sự bất cẩn của một người thợ, Đền thờ bị hỏa hoạn thiêu rụi hầu như hoàn toàn. Hai kiến trúc sư Bosio và Belli khuyên nên xây mới lại ngôi Đền thờ, họa lại theo mô hình Đền thờ cũ. Được các giới chính trị và văn hóa ủng hộ, Đức Leo 12 đã cho khởi công xây lại và vào ngày 25.1.1825, ngài gửi thư tựa đề “An plurimas easque gravissimas” mời gọi các Giám mục mở cuộc lạc quyên cho công trình tái thiết. Rất nhiều người đã hưởng ứng lời kêu gọi và nhiều người đã gửi tiền về Roma. Phó vương Ai Cập đã dâng tặng cột đá trắng và Nga hoàng Nicola I tặng các khối đá làm hai bàn thờ ở hai bên. Đền thờ mới được khánh thành năm 1854, nhưng trong thực tế công trình tái thiết đã kéo dài gần 100 năm. Vào năm 1928, với việc xây cất 4 cổng với 100 cột, do kiến trúc sư Guglielmo Calderini, Đền thờ mới được hoàn thành như ta thấy hiện nay. Khuôn viên bên ngoài Đền thờ có 150 cột. Cửa đồng của Đền thờ là một kiệt tác theo nghệ thuật Byzantine do Đức GioanVII đặt làm ở Constantinople. Đền thờ dài 136 mét, rộng 65 mét, và cao 29,7 mét. Đền thờ có 5 gian, được phân chia thành 24 cột, có chân dung 264 vị Giáo Hoàng, từ thánh Phêrô cho đến Đức Gioan Phaolô II, nhắc nhớ đến sự liên tục của Huấn quyền Giáo Hoàng. Bức tranh khảm đá ở hậu cung Đền thờ do các nghệ sĩ ở Venise thế kỷ 13 thực hiện, diễn tả cảnh Chúa Kitô đang ngồi trên một ngai, hai thánh Phêrô và Anrê ngồi bên phải, hai thánh Phaolô và Luca bên trái. Ở dưới chân Chúa, ta thấy có hình nhỏ Đức Giáo Hoàng Onorio III đang quì, cùng với vị tiền nhiệm là Đức Innocente III và người kế vị là Đức Gregorio IX, là những người cho thực hiện bức tranh khảm đá này. Đức Giáo Hoàng Piô IX đã long trọng khánh thành Đền thờ Thánh Phaolô Ngoại thành năm 1854, trước sự hiện diện của 185 vị Giám Mục đến Roma để dự lễ tuyên bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Dưới bàn thờ chính hiện nay cao 1,37m, có một tấm đá cẩm thạch kích thước 2,12 x 1,27m, ghi hàng chữ: “Paolo Apostolo Mart” (Phaolô Tông Đồ tử đạo). Theo ý kiến một số người, tấm bia cẩm thạch này có từ thế kỷ thứ I, một số chuyên viên khác lại cho là từ hậu bán thế kỷ thứ IV. Đây chính là ngôi mộ của Thánh Phaolô Tông Đồ. Bên trên bàn thờ chính là một cái tán (ciborio) do nghệ sĩ Amolfo di Cambio ở Roma thực hiện năm 1282. Trong trận hỏa hoạn 1823, cái tán này chỉ bị hư hại sơ và được trùng tu lại sau đó. Tại 4 góc của cái tán có 4 tượng nhỏ các Thánh Phêrô, Phaolô, Luca và Biển Đức. 3. NHÀ THỜ DOMINE QUO VADIS Hiểu được ý Chúa Giêsu muốn nói, Thánh Phêrô quay trở lại Roma và chịu tử đạo ở đó. Ngôi Nhà thờ có từ năm 1633, mặt tiền hiện nay ở Nhà thờ được thêm vào thế kỷ 17. Sự hiện diện của Tông đồ Phêrô ở vùng này nơi người ta giả thiết ngài đã sống ở đây. Điều này được xác nhận trong một bảng khắc chữ tại Hang toại đạo Sebastianô gọi đây là Domus Petri (nhà của Thánh Phêrô). Trong một bảng khắc chữ của Đức Giáo Hoàng Damasô (386-384) kính Thánh Phêrô và Phaolô ngài đã viết: “Khi tìm kiếm tên của Phêrô và Phaolô, các bạn phải biết rằng các Thánh này đã sống ở đây”. Theo tương truyền hai dấu chân của Chúa Giêsu được ghi lại ở trên một phiến đá cẩm thạch tại trung tâm Đền thờ là phiên bản của tấm cẩm thạch nguyên thủy được giữ ở Vương cung Thánh đường Thánh Sebastianô gần đó ở mặt tiền Nhà thờ. Ngôi nhà thờ hiện nay được các Cha dòng Tổng lãnh Thiên thần Micae quản lý. Chúng tôi dâng thánh lễ trong ngôi Nhà thờ tuy bé nhỏ nhưng chứa đựng nhiều giá trị lịch sử và đức tin. Cha Phổ, chánh xứ Nam Thái chủ tế và giảng lễ. Sau lễ, đoàn chụp hình lưu niệm, rồi lần lượt mỗi người đặt tay trên 2 dấu chân mà theo tương truyền là dấu chân Chúa Giêsu trên con đường via Appia cổ xưa. Chúng tôi trở về khách sạn nghĩ ngơi sau một hành trình dài.
Sau khi Chúa Giêsu về trời, Phêrô trở thành người lãnh đạo Giáo Hội đầu tiên. Ông đã cùng các môn đệ khác của Chúa đi rao giảng tin mừng khắp nơi, từ Giêrusalem đến Giaffa, Cesarêa, Antiokia… Sau cùng ông đến Roma vào khoảng năm 44. Trong cuộc hành trình này, ông bị bắt bớ và giam giữ rất nhiều lần.Tháng 8 năm 64, Hoàng đế Nêron bắt đầu bách hại giáo dân Kitô giáo. Giáo Hoàng Phêrô cũng đã bị bắt và đưa ra hành hình.
Năm 1895 nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz đã dựa vào Kinh Thánh và bối cảnh lịch sử của đế quốc La Mã thời bạo chúa Neron cầm quyền, viết cuốn tiểu thuyết có tên là “Quo Vadis?”. Cuốn tiểu thuyết này được hãng MGM dựng thành phim năm 1951, gây tiếng vang lớn. Khi cuộc bắt bớ và giết hại các Kitô hữu xảy ra ở Roma, nhiều người đã khuyên Phêrô rời khỏi Roma, vì ông phải tồn tại để lãnh đạo Giáo Hội. Lúc đầu ông không chịu đi, nhưng vì có sự thúc giục của nhiều người, ông đã quyết định ra đi. Nhưng trên con đường Appia, gần cửa Capena, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thập giá trên vai. Phêrô hỏi: Quo Vadis, Domine? (Thưa Thầy, Thầy đi đâu?). Chúa Giêsu đáp: Eo Romam iterum crucifigi (Thầy đi vào thành Roma để chịu đóng đinh một lần nữa). Phêrô hiểu ra ẩn ý của Chúa nên ông quay trở lại thành Roma. Sau khi trở lại Roma một thời gian, Phêrô đã bị bắt và bị tống giam. Trong thời gian bị giam, ông đã cảm hóa hai người lính canh ngục tên là Processus và Martinianus và cả hai đã được rửa tội và tử đạo. Ông bị kết án tử hình trên thập tự, bị dẫn tới hý trường Caligula trên đồi Vatican. Khi trông thấy thập giá, ông cảm thấy mình không xứng đáng được chết như Thầy mình, nên yêu cầu được đóng đinh treo ngược. Giáo Hội qua mọi thời đại luôn tiếp tục đi theo con đường Chúa Giêsu và Thánh Phêrô đã đi. Thêm ba ngày ở Roma, chúng tôi đi thăm rất nhiều nơi. Từ sáng sớm, nhiều đoàn hành hương đã xếp hàng dài chờ đợi để viếng thăm Đền Thờ Thánh Phêrô. Roma là thành phố cổ kính, đường phố hẹp lại đông đảo du khách nên chúng tôi phải đi bộ rất nhiều mới có thể đến thăm các thánh đường. Có khi phải cuộc bộ 2 km mới đến được một nơi hành hương và đi vài cây số mới có được bữa cơm ở tiệm Tàu. Thăm Viện bảo tàng rồi đến nguyện đường Sistine, Đền thờ Thánh Phêrô và hầm mộ các Giáo hoàng, thấy được sự uy nghi, cổ kính, thiêng liêng xuyên suốt dòng lịch sử Giáo hội. 1. VIỆN BẢO TÀNG VATICAN Thư viện và các bảo tàng viện trong điện Vatican là hai kho tàng quí giá của nhân loại. Cả hai mang dấu tích của 2 nền văn hóa Hy Lạp và La Mã, diễn tả sự sáng tạo của con người ở trình độ cao nhất và qua nghệ thuật biểu lộ hình ảnh của Kitô giáo tại Tây phương. Trong bảo tàng viện có những tác phẩm điêu khắc cổ điển như thần Apolo, Venus, sông Nile, sông Tiber, Adriane ngủ… Đức Giáo Hoàng Sixto VI bắt đầu thu góp tác phẩm vào năm 1475 cho đến năm 1555. Nhưng sau đó nổi lên phong trào chống đối Phục Hưng cùng với lối nhìn luân lý chống lại nghệ thuật cổ điển đã làm cho việc thu góp các tác phẩm ở Vatican bị dừng lại. Năm 1756, Đức Giáo Hoàng Benedictô XIV thiết lập Bảo Tàng Viện Kitô giáo trong Thư viện Vatican để “làm gia tăng vẻ đẹp của Thành đô làm chứng cho chân lý tôn giáo”. Năm 1767, Đức Giáo Hoàng thành lập Bảo tàng viện ngoại giáo để giữ gìn những dinh thự của thời Roma cổ. Trước đây, khi bước vào bảo tàng viện Vatican, du khách phải qua một cầu thang hình trôn ốc hai chiều do G. Momo xây với những hình chạm bằng đồng của A. Marani. Nhân dịp Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở thêm cổng vào rộng lớn hơn với những phương tiện cần thiết giúp cho người tàn tật có thể sử dụng được. Từ viện bảo tàng, chúng tôi đi dọc theo một hành lang với nhiều trang trí những tác phẩm vô giá bằng tranh thêu và tranh vẽ trên tường trên trần để tiến vào nguyện đường Sistine. 2. NGUYỆN ĐƯỜNG SISTINE Đây là nơi nổi tiếng nhất trong Bảo tàng viện Vatican. Nguyện đường Sistine là nơi Mật tuyển viện họp bầu tân Giáo Hoàng. Ngước mắt lên trần, nhìn sang phải sang trái, mọi người chiêm ngắm những tác phẩm tuyệt vời. Hướng dẫn viên cho chúng tôi biết đôi nét về những bức tranh. - Các bức tranh bên bức tường trái kể lại cuộc đời của Môisen. - Các bức tranh bên bức tường phải kể lại cuộc đời Chúa Giêsu. - Những bức tranh vẽ trên trần kể lại công trình sáng tạo vũ trụ thửa ban đầu cho đến thời lụt đại hồng thủy. - Những bức tranh vẽ chung quanh tường bắt đầu từ phía bên phải vẽ hình các vị ngôn sứ trong Cựu ước. - Những bức tranh vẽ trên bốn góc tường: lấy bối cảnh thời Cựu ước liên quan đến ơn cứu độ của người Do Thái. Bên trên các cửa sổ là hình các nhân vật tổ phụ trong Cựu ước. - Bức tranh “Ngày phán xét chung”. 3. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH PHÊRÔ 3.1- Lịch sử Đền thờ a. Đền thờ thánh Phêrô thời Hoàng đế Constantino Từ năm 77 đến 88, Đức Giáo Hoàng Anacleto đã thiết lập một nhà nguyện nhỏ dâng kính Thánh Phêrô. Sau này hoàng đế Constantino cho thiết lập tại nơi đó ngôi Thánh đường vĩ đại gồm 5 gian và tồn tại cho đến cuối thế kỷ XV. Đền thờ được tu bổ và trang hoàng qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trong 12 thế kỷ đầu, các bức tường và cột Đền thờ được gắn đá cẩm thạch, hậu cung Đền thờ đươc trang trí bằng những bức tranh khảm đá. Các loại đá cẩm thạch quý giá được gỡ từ các đền đài dinh thự ngoại giáo ở Roma hoặc được đưa từ Đông Phương về. Các gỗ bá hương được lấy từ rừng xứ Liban. Kim loại bóng loáng, những cánh cửa đồng từ vùng Byzantine và nhiều vật liệu quý hiếm khác được đưa về từ khắp nơi trên thế giới để trang trí cho Đền thờ, nhà nguyện, bàn thờ, nhà dành cho linh mục và các tượng đài khác. Các hoàng đế và vua chúa ở Âu châu đến Đền thờ thánh Phêrô để được các Đức Giáo Hoàng phong vương: đặc biệt có đại đế Carlo là vị đầu tiên được Đức Giáo Hoàng Leo III (795- 816) đội triều thiên tấn phong trước mộ thánh Phêrô vào dịp lễ Giáng Sinh năm 800. b. Xây Đền thờ thánh Phêrô mới Vì lý do chính trị, Giáo triều Roma và dinh thự Giáo hoàng được chuyển từ Latêranô sang Avignon (1309- 1377). Từ năm 1377, sau khi từ Avigon trở về Roma, các Đức Giáo Hoàng cư ngụ ở Roma. Trong 73 năm Giáo triều Avignon, Đền thờ thánh Phêrô bị bỏ hoang đến độ hầu như không thể trùng tu lại được và có dấu hiệu tàn lụi, nhất là những bức tường phía nam. Đức Giáo Hoàng Nicola V (1447- 1455) là vị đầu tiên quyết định xây lại Đền thờ Thánh Phêrô mới, và ủy thác cho kiến trúc sư Bernardo Rossellino xây dựng. Theo dự án của vị kiến trúc này, ngôi Đền thờ mới có một cổng phía trước và có hình Thánh giá Latinh, với một mái vòm lớn ở giữa và khu hậu cung bàn thờ có hình bán nguyệt. Tháng 3 năm 1455, Đức Giáo Hoàng Nicola qua đời nên công trình xây dựng bị ngưng lại. Cho đến thời Đức Giáo Hoàng Giulio II della Rovera (1503- 1513), ngài có ý định tìm chỗ xứng đáng cho phần mộ của mình, và Michelangelo đã trình bày họa đồ ngôi Đền thờ mới cho ngài. Khi ông tới Đền thờ thánh Phêrô cũ xem nơi nào có thể đặt phần mộ, Đức Giáo Hoàng Giulio II thấy nơi thích hợp nhất chính là phần hậu cung mới của Đền Thờ mới do Đức Nicola V khởi công xây dựng và ông khuyên Đức Giáo Hoàng tiếp tục xây cất. Đức Giáo Hoàng hỏi phí tổn là bao nhiêu, Michelangelo trả lời là 100 ngàn đồng quan vàng. Đức Giulio II đáp lại: “ Ông hãy làm với 200 ngàn đồng”. Sau đó ngài sai hai kiến trúc sư San Gallo và Donato Bramante đi xem địa điểm, và ngài muốn xây lại ngôi Đền Thờ Phêrô hoàn toàn mới. Khi Bramante nhận lệnh Giáo Hoàng Giulio II (1503- 1513) phá bỏ Đền Thờ thánh Phêrô cũ để xây Đền Thờ Thánh Phêrô mới. Dân Roma kinh ngạc theo dõi việc phá đền thờ cũ và họ gán cho Bramante danh xưng là “vị kiến trúc sư phá nhà”. Trong những năm ấy, Michelangelo lúc đó đã gần 70 tuổi mới bắt đầu xây mái vòm. Sau khi ông qua đời (1564), 4 vị kiến trúc sư khác tiếp tục công trình của ông. Mặt tiền Đền thờ do Kiến trúc sư Carlo Maderno làm xong năm 1614. Ngày 18. 11. 1626, Đức Giáo Hoàng Urbano VIII thánh hiến Đền Thờ Phêrô mới, nhân dịp kỷ niệm 1.300 năm ngày thánh hiến Đền thờ Phêrô cũ do hoàng đế Constantino xây dựng. Sau này kiến trúc sư Giuseppe Valadier đã thực hiện hai đồng hồ ở mặt tiền Đền thờ năm 1822. Dưới đồng hồ bên trái có quả chuông chu vi với 7,5 mét, nặng 9,3 tấn. 3.2- Vài nét đặc tính của Đền thờ a. Đền thờ vẫn là Vương cung thánh đường có kích thước lớn nhất trong thế giới Kitô giáo. Theo kiến trúc sư Giuseppe Valadier (1812): từ nền cho đến nóc cao là 135,2 mét. Diện tích Đền thờ là 22.076 mét vuông. Mặt tiền Đền thờ cao 46 mét và ngang 115 mét. Các cột cao gần 29 mét, đường kính cột 2,65 mét. Chiều ngang đền thờ là 150 mét; chiều dài đền thờ là 187 mét. Đền thờ thánh Phêrô có thể chứa được 54 ngàn người nếu đứng chật hết mọi chỗ kể cả các gian lối đi, b. Trong Đền thờ có 46 bàn thờ khác nhau. Có 9 bàn thờ dâng kính Đức Mẹ với nhiều tước hiệu khác nhau. Bàn thờ cuối cùng được Đức Piô IX (1846- 1878) thánh hiến ngày 18.1.1856. c. Tầng hầm Đền thờ: là nền Đền thờ nguyên thủy từ thời Hoàng đế Constantino. Trong tầng hầm này có nhiều nhà nguyện chung quanh mộ Thánh Phêrô, với những bàn thờ để các linh mục cử hành thánh lễ. Có 147 trong số 264 phần mộ các Đức Giáo Hoàng được chôn cất tại đây. d. Cửa Thánh: Trong số 5 cửa vào Đền thờ, có một cửa chỉ được mở vào Năm Thánh. e. Mái vòm Đền Thờ có chu vi bên trong là 42,7 mét và chu vi bên ngoài là 58 mét, mái vòm cao 50,33 mét. Tính từ nền lên tới đỉnh cao nhất của Đền thờ là 135,2 mét. Thánh giá trên đỉnh mái vòm cao 4,87 mét và thanh ngang rộng 2,65 mét. Theo các nhà toán học Boscovich, Le-Leur và Lacquer, trọng lượng mái vòm là 56.208.837,46 kg. Theo phong tục, những vị Giáo hoàng được phong Chân phước và sắp được làm Thánh thì được làm một tượng bằng sáp đặt ở cánh ngang Đền thờ như tượng chân phước Gioan XXIII được đặt ở bên phải cánh ngang Đền thờ. g. Bàn thờ chính của Đền Thờ được coi là Bàn Thờ Tuyên Xưng Đức Tin, được xây ngay bên trên mộ thánh Phêrô theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Clemente VIII (1592- 1605). Bàn thờ có tán lọng và 4 cột vòng bằng đồng chống đỡ, do kiến trúc sư Bernini thực hiện. Tượng các thiên thần ở trên mỗi góc cao 3,5 mét. Dưới bàn thờ này có một bàn thờ khác của Đức Giáo Hoàng Callisto (1119- 1124), và bên dưới bàn thờ thứ hai này có một bàn thờ khác nữa của Đức Giáo Hoàng Gregorio Cả (590- 604). Đi xuống sâu hơn, người ta gặp một khối hình vuông, bọc cẩm thạch trắng và đá vân đỏ. Đây chính là đài do hoàng đế Constantino thực hiện để kính nhớ thánh Phêrô Tông Đồ và có lẽ được diễn ra trong lễ nghi tưởng niệm cuộc chiến thắng của ông tại cầu Milvio ngày 28 tháng 10 năm 312. h. Tượng Thánh Phêrô bằng đồng ở bên phải bàn thờ chính có từ thế kỷ 13, được tôn kính trong Đền thờ: các ngón chân phải của ngài bị mòn nhiều do sự hôn kính của hàng triệu triệu tín hữu qua dòng thời gian. i.Tượng Đức Mẹ Sầu Bi (Pietà) bằng cẩm thạch trắng ở bên phải gần cửa ra vào mặt tiền, diễn tả Mẹ Maria đang ẵm xác Chúa Giêsu từ trên Thánh Giá xuống, do Điêu khắc gia Michelangelo thực hiện vào năm 1500 khi ông mới 25 tuổi và là tác phẩm duy nhất mang chữ ký của ông. Để bảo vệ tượng điêu khắc này khỏi bị hư hại do tham quan, người ta xây hàng rào bảo vệ, cho nên bây giờ khó có thể chiêm ngưỡng pho tượng này hơn so với trước kia. 3.3- Mặt tiền Đền thờ Được thực hiện trong vòng 8 năm với 700 công nhân và hoàn thành năm 1614. Để chuẩn bị đón mừng Năm Thánh 2000, Ban quản lý Đền thờ đã cho tu bổ toàn diện mặt tiền đền thờ lần đầu tiên kể từ khi khánh thành đầu tiên vào năm 1985 với kinh phí 2 triệu Mỹ kim do hội hiệp sĩ Colombo tài trợ. Công trình thanh tẩy thứ hai tu bổ toàn bộ Đền thờ được hoàn tất cuối tháng 9 năm 1999 sau gần 2 năm rưỡi tiến hành, từ tháng 3 năm 1997. Các chuyên viên đã sử dụng các dụng cụ tối tân để trắc nghiệm mặt tiền Đền thờ với phương pháp siêu âm, âm hưởng điện từ và các kính hiển vi điện tử, các kỹ thuật này của công ty dầu hỏa Italia (ENI). Việc thanh tẩy và tu bổ toàn diện là điều cần thiết vì không khí tại Roma bị ô nhiễm cao độ. Mặt tiền Đền thờ Thánh Phêrô được xây bằng lớp đá cẩm thạch có những lỗ li ti rất dễ bị tổn thương vì những lớp sương mù trộn với khói xe cộ ở Roma. Thêm vào đó mưa axít cùng với mốc meo ở trong những lỗ nhỏ trên lớp đá tiếp tục ăn mòn các cột, các góc cạnh và 13 pho tượng trên mặt tiền Đền thờ. Vì thế, chỉ trong vòng 10 năm sau khi thanh tẩy, mặt tiền Đền thờ cũng đã hư hại nhiều cần được chỉnh trang toàn bộ và sâu rộng hơn. Một lý do khác đó là nhân dịp Đại Năm Thánh 2000 đến gần, và đặc biệt là có sự tài trợ của ENI, công ty dầu hỏa Italia có chi nhánh tại 80 quốc gia. Tổng số tiền tài trợ lên đến 9 triệu USD. 3.4 - Quảng trường Thánh Phêrô Hình bầu dục, dài 196 mét và rộng 148 mét, với diện tích khoảng 4 hécta, có hàng cột vòng cung bao quanh như vòng tay chào đón tín hữu. Đây là tác phẩm do kiến túc sư Bernini thiết kế, tổng cộng có 284 cột, mỗi bên 142 cột, đường kính cột lớn nhất là 1,45 mét. Các cột được xếp thành 4 hàng, với 3 lối đi. Hàng cột cao 18,6m bên trên có 140 pho tượng, cao 3,24m do các môn đệ của Bernini thực hiện trong khoảng thời gian 11 năm, từ 1656 đến 1667. Từ Tháp bút ở giữa quảng trường tới mặt tiền Đền thờ có khoảng cách là 191 mét, trong khi khoảng cách giữa hai tượng Thánh Phêrô và Phaolô là 76,73m. Trên mặt tiền Đền thờ, có các pho tượng cao 5,65m. Các tượng này được tạc sơ sài, chúng được tạc để nhìn từ xa. 3.5 - Tháp bút Tháp bút ở giữa quảng trường Thánh Phêrô là một khối đá hình kim tự tháp bằng đá vân cương đỏ ở Đông Phương, ban đầu được tổng trấn Ai cập là Caio Cornelio Gallo dựng lên để tôn vinh bản thân. Về sau tháp bút này được Eliopoli đưa về Roma theo ý muốn của hoàng đế Neron, với mục đích tuyên dương hý trường do ông khởi xướng. Tháp bị đổ và bỏ rơi trong nhiều thế kỷ, cho tới thời Đức Giáo Hoàng Sisto V (1585- 1590), dự án đó mới thành hình. Công trình này đòi sự hợp lực của 900 công nhân, với 140 con ngựa và dùng 47 cần trục cùng với 5 đòn bẩy thật mạnh. Quy luật được ban hành trong công trình dựng tháp là các công nhân phải tuyệt đối giữ im lặng và chỉ được nhận lệnh từ kiến trúc sư Domenico Fontana mà thôi. Dân chúng hiếu kỳ không được đến gần, nhưng người ta vẫn cứ đến gần đến nỗi Đức Sixto V còn ra lệnh phạt tử hình những người vượt quá ranh giới và gây tiếng ồn ào. Theo tương truyền từ năm 1770, trong khi tiến hành việc dựng tháp thì những sợi dây thừng đỡ tháp bút bắt đầu giãn ra và có nguy cơ bị đứt. Tình trạng thật nguy hiểm. Một người thợ tên Bresca, vốn là một thủy thủ đã quen với dây chão. Ông ra lệnh: “Hãy đổ nước vào các dây thừng”. Nhận thấy tình trạng nguy ngập, kiến trúc sư Domenico Fontana vội ra lệnh thi hành ngay lời khuyên đó và tai nạn được tránh thoát. Sau này Bresca đã được thưởng thay vì bị tử hình. Ông được triệu tới trước mặt Đức Giáo Hoàng và ngài yêu cầu ông hãy xin một ơn. Ông Bresca đã xin cho mình và dòng dõi mình được đặc ân cung cấp lá dừa cho Tòa Thánh để dùng trong nghi thức Chúa Nhật Lễ Lá. Lời thỉnh cầu được chấp nhận và ngày nay gia tộc Bresca ở miền Liguna vẫn cung cấp lá dừa cho Vatican vào Tuần thánh hàng năm. Năm 1586, Đức Sixto V cho đặt trên tháp một cây Thánh giá lớn bằng sắt, trong có chứa mảnh Thánh giá thật của Chúa Giêsu. Ở bệ tháp có khắc hàng chữ: “Đây là Thánh giá của Chúa. Các quyền lực đối nghịch hãy trốn chạy. Sư tử của chi tộc Giuda đã chiến thắng”. Tổng cộng từ bệ lên tới đỉnh tháp là 41,23 mét và nặng 312 tấn. Hai bên tháp có hai bể nước khổng lồ giống nhau, mỗi phút có 38.400 lít nước đổ vào. Vòi nước phun có thể lên cao 14 mét. 3.6 - Mộ Thánh Phêrô Khu vực xây Đền thờ thánh Phêrô trước kia là một nghĩa trang thời La Mã, và được khám phá trong thập niên 1930, sau đó được khai quật trong hai đợt: từ 1939 đến 1949, rồi từ 1953 đến 1958. Người ta khám phá thấy hai hàng nhà mồ với những hốc mộ, những bích họa và tranh khảm đá, cùng với một khu vực với những ngôi mộ đơn sơ hơn. Các cuộc khai quật dưới bàn thờ tuyên xưng đức tin đưa tới sự khám phá mà Đức Phaolo VI tuyên bố ngày 26 tháng 6 năm 1968: “Hài cốt Thánh Phêrô được nhận diện đến độ chúng tôi coi là có lý”. Ngôi mộ Thánh Phêrô được mở cho du khách tham quan từ năm 1975 nhưng mỗi ngày thường xuyên có rất đông khách hành hương đến kính viếng nên gây ra những tổn hại về mặt kết cấu của ngôi mộ. Công ty điện lực Ý là ENEL đã tình nguyện tài trợ dự án với phí tổn khoảng 1 triệu 700 ngàn USD. Năm thánh 2000, việc viếng thăm ngôi mộ được mở lại rồi sau đó lại bị giới hạn. Nhiều du khách không biết là có khu vực này. Tuy nhiên muốn viếng thăm cần phải đăng ký trước tại văn phòng khai quật của Vatican và có hướng dẫn viên dẫn từng nhóm đi thăm. Trong ngày kỷ niệm 1 năm lên ngôi Giáo Hoàng 16.10.1979, chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã cho mở một cổng rộng 2,3 mét, cao 2,5 mét để các tín hữu có thể bước vào mộ Thánh Phêrô dưới hầm Đền thờ cách dễ dàng hơn. 4. HẦM MỘ CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG Các lối dẫn vào hầm mộ được tạo ra từ bên phải vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Chúng tôi đi xuống cầu thang và thấy các cây cột còn sót lại của ngôi thánh đường đầu tiên, được xây theo phong cách Constantine từ năm 326 đến 333.Rồi đi ngang qua phần mộ của Đức Giáo Hoàng Calixtô III và sau đó là Bônifaciô VIII, Nicôla III, Innôxentê VII, Nicôla V, Phaolô II, Mácxêlô II, Gioan Phaolô I và Innôxentê IX. Một số phần mộ lại được trưng bày hình ảnh của các vị giáo hoàng được chôn cất tại đó tương tự những hình ảnh mà chúng tôi thấy nơi Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành. Lúc sinh thời, sau mỗi chuyến công du mục vụ nước ngoài, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II thường xuống hầm mộ để cầu nguyện trước những vị tiền nhiệm. Trong đó nhiều nhất là tại mộ Thánh Phêrô.Theo người trông coi hầm mộ tên là Vittorio, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II thường đi một mình xuống hầm vào lúc còn rất sớm. Ngài từng bày tỏ ước nguyện được chôn cất một cách đơn giản, tại nơi nằm gần nhất có thể với chỗ an nghỉ của Thánh Phêrô. Nằm ngay cạnh nơi được chuẩn bị làm chỗ chôn Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II là mộ của các Giáo hoàng Benedicto XV, John Paul I, Innocent IX, Julius III và Paul VI. Các nhà khảo cổ tin rằng, gần mộ Giáo hoàng Phaolô IV và thẳng dưới án thờ chính của gian cung thánh Đền thờ Thánh Phêrô là mộ phần của vị Giáo hoàng đầu tiên. Do đó, nơi an nghỉ của Giáo hoàng Gioan Phaolô II là mộ phần còn trống nằm gần vị Thánh Tông đồ Phêrô nhất, đúng như ước nguyện lúc sinh thời của ngài. Trong hầm mộ nổi tiếng ở Vatican còn có một người phụ nữ duy nhất được vinh dự an táng cạnh các Giáo hoàng. Đó là Nữ hoàng Thuỵ Điển Christina, người nổi tiếng với quyết định từ bỏ ngai vàng cai trị đất nước và cải đạo từ Tin lành sang Công giáo để đến sống ở thành Rome cho đến khi qua đời. Tính đến nay có tổng cộng di cốt của 147 trên danh sách 263 Giáo hoàng trong lịch sử Vatican đang an nghỉ trong hầm mộ Đền thờ Thánh Phêrô. Trong số những vị còn lại, ngoài các trường hợp an táng trong những nhà thờ Công giáo khác thì đều không rõ nơi yên nghỉ các ngài ở đâu. Đặc biệt là phần mộ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, 5 năm sau đã trở thành điạ điểm thăm viếng nhiều nhất của Roma.Kể từ năm 2005, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời, hầm Vatican, nơi có đặt phần mộ của Ngài, đã trở thành một trong những điểm được viếng thăm thường xuyên nhất ở Roma. Trung bình có khoảng 12.000 người đến viếng thăm phần mộ này mỗi ngày, mở cửa cho công chúng từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều (hoặc đến 6 giờ vào mùa hè). Đại đa số du khách đều tìm đến nơi an nghỉ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Vài người khác, đặc biệt là du khách lớn tuổi, cũng dừng chân bên Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô I. Một số người cho biết, phần mộ Đức Gioan Phaolô II, trước kia là nơi an táng Đức Gioan XXIII (kể từ năm 2002, Ngài được cải táng vào bên trong vương cung thánh đường Thánh Phêrô). (x.Zenit.org). Được nhìn thấy phần mộ của Đức Gioan Phaolô II, những ký ức về cuộc đời Ngài lại hiện lên trong tâm trí tôi với tất cả lòng kính yêu và ngưỡng mộ. Lên lại bên trên, chúng tôi uống dòng nước ngọt mát lạnh từ những vòi nước phía bên phải đền thờ. Sau bữa cơm trưa thật ngon nơi nhà hàng Tàu chúng tôi đến thăm hí trường Colosseum. Một sự cố bất ngờ với đoàn hành hương, Cha Thủ phải vào điều trị tại bệnh viện Roma. 5. ĐẤU TRƯỜNG COLOSSEUM 6. TIỂU VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH SEBASTIANO Chúng tôi cầu nguyện và lần chuỗi sốt sắng nơi tượng Đức Mẹ ban ơn ở bên cánh trái Nhà thờ. Sau đó đoàn đến thăm và dâng lễ tại Tiểu Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ. 7. TIỂU VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ Sáng sớm ngày thứ ba ở Roma chúng tôi đến thăm Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả. 8. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CẢ a. Lịch sử Đền thờ Đền thờ này được xây trên đồi Esquilino để thay thế việc thờ nữ thần Cibele, là mẹ các thần minh của dân ngoại, bằng việc tôn kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Đầu tiên, Đền thờ này được gọi là Đền thờ Liberiana, lấy theo tên của Đức Giáo Hoàng Liberio (352- 366), là người đã cho xây Đền thờ này. Theo tương truyền một nhà quý tộc ở Roma tên là Giovanni và vợ, đã cao niên mà không có con cái. Họ quyết định dâng toàn bộ tài sản để xây một Đền thờ kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Trong đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 8 năm 356, Đức Mẹ hiện ra trong giấc mơ với ông Giovanni và dạy ông lo xây cất Đền thờ tại nơi xảy ra biến cố lạ thường và Đức Giáo Hoàng Liberio có cùng một thị kiến như vậy. Biến cố đặc biệt đó là vào ngay giữa hè trời thật nóng bức như thế mà trên đỉnh đồi Esquilino dân chúng lại thấy có một lớp tuyết phủ. Sau đó ngôi Đền thờ này được Đức Giáo Hoàng Sixto III (432-440) tái thánh hiến dâng kính Đức Mẹ vào ngày 5 tháng 8 năm 432, tức là một năm sau khi Công Đồng Chung Êphêsô tuyên bố tín điều Đức Maria là “Theotókos”, Mẹ Thiên Chúa, chứ không phải chỉ là “Christotókos”, Mẹ Đức Kitô mà thôi. Ngày nay, để ghi nhớ sự tích Đức Mẹ xuống tuyết ở đỉnh đồi Esquilino, vào ngày 5.8, Giáo hội cử hành lễ cung hiến Đền thờ Đức Bà Cả. Trong thánh lễ trọng thể này, người ta vẫn thả từ trần Nhà thờ những hoa hồng màu trắng xuống trên các tín hữu. Đến thế kỷ thứ VII, Đền thờ này được gọi là Đền thờ “Đức Mẹ Hang Đá”, vì có hang đá Belem được dựng trong nhà nguyện dưới tầng hầm, với 5 mảnh gỗ của Máng cỏ ngày xưa và vài viên đá trong Hang đá được đưa từ Thánh Địa về đây vào năm 642 dưới thời Đức Giáo Hoàng Theodoro I (642- 649). Ngài là người sinh trưởng tại Giêrusalem. Thánh tích quí giá này được lưu trữ trong một hòm bằng bạc do vua Filipphê II của Tây Ban Nha tặng và nay được đặt dưới bàn thờ chính của Đền thờ. Qua dòng thời gian, Đền thờ này được gọi là Đền thờ Đức Bà Cả, vì đây là ngôi Đền thờ lớn nhất trong số 26 nhà thờ dâng kính Đức Mẹ ở Roma. b. Kiến trúc Tại quảng trường Đền thờ, có cột cao 14 mét bằng đá cẩm thạch trắng, được Đức Giáo Hoàng Phaolô V (1605- 1621) cho đưa về đây. Đây là cột duy nhất còn sót lại của 8 cột của Đền thờ Massenzio (cũng gọi là Đền thờ Hòa Bình) thời Trung Cổ. Tượng Đức Mẹ ẵm bế Chúa Giêsu Hài Nhi bằng đồng ở trên cột là tác phẩm của Điều khắc gia người Pháp Guillaume Berthelot. Tháp chuông Đền thờ cao 75m là tháp chuông cao nhất ở Roma do Đức Gregorio XI cho xây dựng năm 1377. Tháp chuông theo phong cách Roma.Trên tháp có treo 4 quả chuông được coi là hài hòa nhất tại Roma. Năm 1983 tháp này được tu bổ thêm lần nữa. Mặt tiền Đền thờ bằng đá cẩm thạch do kiến trúc sư Femando Fuga (1743) kiến thiết gồm cổng chính với 5 cửa. Ban công chính bên trên của mặt tiền Đền thờ là phần duy nhất còn lại của Đền thờ Đức Giáo Hoàng Sisto III. Ngày xưa từ ban công này, Đức Giáo Hoàng thường ban phép lành cho các tín hữu. Ở tiền đường bên trái có Cửa Thánh, bên phải có tượng của vua Philipo IV Tây Ban Nha bằng đồng do Điêu khắc gia Bernini thiết kế. Đền thờ dài 86,5 mét, rộng 29,13 mét, và cao 18,43 mét. Có 36 cột bằng đá, theo thứ tự mà người Hy Lạp vẫn dành cho các vị thần của họ, phân chia 3 gian của Đền thờ. Ngày nay, có 40 cột, vì vào thế kỷ 18, khi tu bổ Đền thờ, kiến trúc sư Fuga cho dựng thêm 4 cột bằng cẩm thạch xám, để chống đỡ các vòng cung. Nền đền thờ gồm nhiều tấm đá ghép lại như bức tranh khảm đá, do hai nhà quí tộc Roma tặng cho Đức Giáo Hoàng Eugenio III (1145- 1153). Trần Đền thờ mạ vàng, số vàng đầu tiên đưa từ Mỹ châu về cụ thể là từ Peru, do Hoàng đế Femando và hoàng hậu Tây Ban Nha tặng cho Đức Giáo Hoàng Alexandro VI (1492- 1503). Kiến trúc sư Giuliano da Sangallo đã dùng vàng đó tán thành những lá mỏng để trang trí trần Đền thờ, và mang huy hiệu của gia tộc Borgia của Đức Giáo Hoàng Alexandro VI (ngài là người Tây Ban Nha). Hai mươi bảy tranh khảm đá ở hai bên tường lòng giữa đền thờ mô tả những cảnh tượng trong Kinh Thánh Cựu Ước và về cuộc đời Chúa Giêsu. Ở giữa vòng cung, có cảnh tả ngai Chúa Giêsu, mặc hoàng bào được trang điểm bằng ngọc quí, tay cầm Thánh giá và sách Khải Huyền. Chung quanh là hình thánh Phêrô và Phaolô, cùng với biểu hiệu của 4 thánh sử Phúc Âm. Cạnh đó là cảnh Chúa Giáng sinh. Bên trái là cảnh truyền tin cho Đức Mẹ. Bàn thờ chính trong Đền thờ, còn gọi là bàn thờ tuyên xưng đức tin (confession) do Kiến trúc sư Vespignani trang trí vào năm 1874, bằng đá cẩm thạch quí hiếm. Trên bàn thờ có tán cao, được 4 cột vòng bằng đồng chống đỡ, do Fuga thực hiện. Tại khu bàn thờ chính này có hòm giữ thánh tích của Thánh Mathêu Tông đồ và các vị tử đạo khác. Ở khu hậu cung Đền thờ, có bức tranh diễn tả cảnh Chúa Giêsu đội triều thiên cho Đức Mẹ, có ca đoàn 18 Thiên thần và các Thánh bao quanh, đây là kiệt tác của Tu sĩ Jacopo Torriti Dòng Phanxicô năm 1295 thực hiện. Bên phải Đền thờ có Nhà nguyện Sixtina, tại đây có đặt Mình Thánh Chúa, và có tượng của Đức Giáo hoàng Sixtô V thuộc Dòng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Piô V thuộc Dòng Đaminh, là người đã thiết lập lễ Đức Mẹ Mân Côi. Ở bên trái Đền thờ có Nhà nguyện Paolina. Trong Nhà nguyện này có ảnh Đức Mẹ “Salus Populi Romani” (Phần Rỗi của dân Roma). Theo tương truyền, bức ảnh này do Thánh sử Luca vẽ dang dở sau đó được một Thiên thần hoàn tất, vì thế đây không phải là bức tranh do tay người phàm vẽ ra. Lưu truyền nói rằng ảnh tự động đến Roma từ Costantinople, tránh nạn phá ảnh tượng 3 thế kỷ trước đó và được đặt tại đây từ năm 1613. Ngôi Nhà nguyện này được coi như là ngôi Nhà nguyện phong phú và đẹp nhất Roma với những bức họa tuyệt đẹp để tôn vinh Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Mặt sau của Đền thờ, hướng về quảng trường Esquilino, nổi bật trên nhiều bậc thang, do kiến trúc sư Rainaldi thực hiện vào năm 1673. b. Một số sự tích của Đền thờ Cũng như nhiều Đền thờ lớn khác ở Roma, Đền thờ này cũng có nhiều sự tích lưu truyền lại: -Theo tương truyền, một ngày kia, Olimpo, quan tổng trấn Roma, giận dữ, hầm hầm đi vào Đền thờ Đức Bà Cả để sát hại Đức Giáo Hoàng Marino (882- 884) trong lúc ngài cử hành Thánh lễ. Nhưng vừa bước qua ngưỡng cửa Đền thờ, đột nhiên ông bị mù và không thể thi hành ý định gian ác đó. Sự tích này được ghi nhớ trong một hình nổi cẩm thạch do điêu khắc gia Lironi tạc bên trên Cửa Thánh vào năm 1730. -Lễ Giáng Sinh năm 1705, trong lúc Đức Giáo Hoàng Gregorio VII (1073- 1085) cử hành Thánh lễ Nửa đêm tại Đền thờ Đức Bà Cả, ngài bị một kẽ gian ác tên là Cencio, con của tỉnh trưởng Stefano bắc cóc. Tên này đã từng xây một tháp cạnh cầu thánh Phêrô (ngày nay người ta gọi là cầu thánh Thiên Thần), và đòi những người đi qua đó phải trả lệ phí cầu đường. Cencio giam Đức Giáo Hoàng trong tháp đó, với mục đích giao nạp cho hoàng đế Enrico IV của Đức để trả thù những biện pháp cải tổ can đảm của Đức Giáo Hoàng. Trong số các cải tổ đó có việc tước quyền hoàng đế trong việc phong thế quyền cho Giám Mục trước khi trao quyền thiêng liêng cho các ngài.Ngay tức khắc dân Roma nổi loạn, và ngày hôm sau, họ giải thoát ngài, rồi long trọng rước ngài trở lại Đền thờ Đức Bà Cả. Và như thể không có chuyện gì xảy ra, Đức Gregorio VI điềm nhiên mặc áo lễ và cử hành tiếp Thánh lễ từ chỗ bị cắt ngang hôm trước. -Tại Đền thờ có phần mộ của Đức Giáo Hoàng Clemente IX (1667- 1669). Khi sinh thời, ngài đã từng bày tỏ mong ước được an táng tại Đền thờ này chứ không phải tại Đền thờ Thánh Phêrô. Nhưng khi ngài qua đời mà phần mộ ngài do kiến trúc sư Girolamo Rainaldi vẽ kiểu chưa hoàn tất, nên quan tài của ngài được chôn tạm tại Đền thờ Thánh Phêrô. Ngay sau đó, có tin về các phép lạ do Đức cố Giáo Hoàng thực hiện. Tin này được một Tu sĩ Phanxico ở tu viện Aracoeh xác nhận. Thầy bị mù và cho biết đã được khỏi nhờ cầu xin Đức Giáo Hoàng Clemente IX cứu giúp. Dân chúng bắt đầu lũ lượt kéo đến mộ của ngài để xin ơn và những người được ơn thì gắn các bảng tạ ơn gần ngôi mộ tạm. Lòng nhiệt thành của dân chúng lên đến cao độ đến nỗi họ tháo gỡ cả những mảnh gạch quanh mộ, như thể sức mạnh đặc biệt của Đức cố Giáo Hoàng lan tỏa ra đó.Các vị hữu trách Đền thờ thánh Phêrô lo ngại vì lòng nhiệt thành quá độ của các tín hữu, nên đã hối thúc và yêu cầu các vị hữu trách ở Đền thờ Đức Bà Cả hoàn tất mau lẹ ngôi mộ dành riêng của Đức Clemente IX tại đây, và họ vội chuyển thi hài của ngài về an táng trong Nhà nguyện Paolina. Nhưng kể từ đó ngài không còn làm phép lạ nữa. Lúc 6 giờ chiều ngày 4 tháng 5 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc kinh Mân Côi trọng thể tại Đền thờ Đức Bà Cả.Đây là lần thứ 2, ngài đến Vương cung thánh đường này. Lần đầu hôm 14-3-2013, tức là ngay sáng hôm sau khi được bầu làm Giáo Hoàng. Lần này có tính chất chính thức và cũng là lễ nhận Thánh Đường này.Đây là nhà thờ kính Đức Mẹ đầu tiên và lớn nhất được xây cất ở Tây Phương, và cũng được coi là biểu tượng tột đỉnh lòng sùng kính của dân Chúa, đặc biệt là dân Roma, đối với Mẹ Maria. Nhân dịp ĐTC viếng thăm, ảnh Đức Mẹ là phần rỗi của dân Roma được đặt cạnh bàn thờ chính Từ Đền Thờ Đức Bà Cả chúng tôi đến thăm Nhà thờ kính Đức Mẹ nổi tiếng, nơi có bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. 9. NHÀ THỜ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP 10. NHÀ THỜ THÁNH PHÊRÔ BỊ TRÓI Quý gối trước cung thánh, chúng tôi chiêm ngắm các thánh tích, đó là những xiềng xích Thánh Phêrô phải mang ở Giêrusalem, ở Roma, được chứa đựng trong một cái hòm đựng Thánh tích bằng đồng mạ vàng. 11. NHÀ TÙ MAMERTINO Lên khỏi nhà tù là nhìn thấy khải hoàn môn Constantinô, nay đang được khai quật khảo cổ. 12. KHẢI HOÀN MÔN CONSTANTINÔ 13. NHÀ THỜ THÁNH PHAOLÔ TRE FONTANE Ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ thứ 5. Đến năm 1599 được Giacomo della Porta xây lại. Ngôi nhà thờ hiện nay thuộc quyền sở hữu của Dòng Trappist cũng mang cùng tên.Trong Nhà thờ có ba bia kỷ niệm về ba ngọn suối, nhìn vào thấy ánh sáng đèn vàng hắt lên lung linh như dòng sưới đang chảy. Di tích của nền nhà thờ bằng đá khảm thời Roma sau này được lưu giữ lại. Người ta cho rằng nó được đem về đây từ vùng Ostia, một cảng của Đế quốc Roma thời đó. 14. BỂ NƯỚC TREVI 15. ĐỀN THỜ PANTHEON Quảng trường Patheon trước mặt tiền Đền thờ do G. delle Porta xây năm 1578 được trang hoàng với một tháp bút Ai Cập đứng giữa bồn nước. Sau đó đoàn chúng tôi đến dâng lễ tại một Nhà thờ đặc biệt ở Roma, đó là Nhà thờ Hiệu toà của Tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y FX.Nguyễn Văn Thuận và có phần mộ của ngài. Tại đây, ai cũng thấy ấm áp và gần gũi. Mọi người quỳ gối cầu nguyện trước mộ phần của ngài và dâng những bài ca tán tụng Thiên Chúa. 16. NHÀ THỜ SANTA MARIA DELLA SCALA, Nhà thờ Hiệu toà của Đức Hồng Y FX.Nguyễn Văn Thuận. a. Lịch sử: b. Nghệ thuật trong Nhà thờ Nhà thờ còn có bức họa cuộc trảm quyết của Thánh Gioan Tẩy Giả của họa sĩ Hà Lan là Gerrit van Honthorst và một bức họa Cái chết của Đức Trinh Nữ của họa sĩ Carlo Saraceni. Thánh lễ tối nay do Cha Lộc OP chủ tế giảng lễ và chủ sự nghi thức chúc hôn cho 7 đôi vợ chồng kỷ niệm 20 năm đến 50 năm hôn phối. Phúc lành của Đức Hồng Y FX chan hòa trên mọi người chúng tôi. Sau lễ, Cha Trác bạn cùng lớp đang làm việc ở viện đại học Angêlicum cùng với cha Nguyên, cha Huệ đang du học đãi anh em chúng tôi bữa tiệc tại quán ăn Á đông rất tuyệt. Khởi đầu ngày thứ tư ở Roma, chúng tôi đi thăm Đại Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Laterano 17. ĐẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH GIOAN LATERANO a. Lịch sử Năm 313, ông ra chiếu chỉ tại Milano, ngưng bách hại các người Kitô hữu, cho tự do hành đạo, và ra lệnh trả lại tất cả tài sản đã tịch thu của Giáo Hội trong thời kỳ bách hại của các hoàng đế tiền nhiệm. Sau cùng, hoàng đế trở lại đạo Công giáo và ấn định Chúa nhật là ngày nghỉ hằng tuần. Vào khoảng năm 313-318, Hoàng đế Constantinô đã ra lệnh xây Thờ Chúa Cứu Thế ở khu vực Laterano. Đây là khu vực của gia tộc Laterano giàu có đã bị hoàng đế La mã là Nero (54- 68) tịch thu tài sản, sau khi ông ta đã giết người cuối cùng của gia tộc này là Plauzio Laterano bằng cách gán cho ông này tội mưu phản. Hoàng đế Constantino ra lệnh san bằng doanh trại rộng lớn của đoàn quân cận vệ hoàng đế Massenzio để lấy đất xây Đền thờ Chúa Cứu Thế. Qua quyết định này, ông làm một công đôi việc, một đàng muốn phá hủy dấu tích hùng vĩ của đối phương, đàng khác muốn tái khẳng định ý định nâng đỡ Kitô giáo. Theo các sử gia, sở dĩ Hoàng đế Constantino chọn khu vực ngoại ô này của thành Roma hồi đó để xây Đền thờ đầu tiên của Kitô giáo, cạnh tường thành Aurelia, là để khỏi đụng chạm đến sự nhạy cảm của nhiều người dân Roma hồi đó vẫn còn theo ngoại giáo. Tương truyền kể lại rằng: Hoàng đế Constantino bị bệnh phong cùi. Đêm kia trong giấc mộng, ông được Thánh Phêrô và Phaolô hiện ra và hứu chữa khỏi nếu ông lãnh nhận bí tích Rửa tội. Hoàng đế ra lệnh tìm kiếm Đức Giáo Hoàng Silvestro1 (314- 335) và Ngài rửa tội cho hoàng đế năm 314 và chữa ông khỏi bệnh phong cùi. Để tỏ lòng biết ơn, hoàng đế ra lệnh xây cất Đền thờ này. Năm 334, Đền thờ được Đức Giáo Hoàng Silvestro I thánh hiến. Theo tương truyền có ảnh Chứa Cứu Thế “achiropita”, nghĩa là không do tay người phàm vẽ ra, xuất hiện cách lạ lùng trong lễ thánh hiến Đền thờ. Sau này, ảnh này được vẽ lại trên mặt tiền và được coi là phép lạ suốt thời Trung Cổ. Đền thờ này là Thánh đường đầu tiên của Giám Mục Rôma, và cũng là Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Rôma. Thánh đường này được gọi là “Mater et Caput”, là Mẹ và là Đầu của tất cả Nhà thờ khác trên thế giới. Đền thờ này cũng tượng trưng cho sự trỗi dậy của Kitô giáo. Thật vậy, sau chiếu chỉ tha đạo của hoàng đế Constantino, một cộng đoàn Kitô hữu đã xuất đầu lộ diện, công khai cử hành phụng vụ và biểu lộ đời sống đức tin. Đền thờ này tượng trưng cho chính Giáo hội Vì tầm quan trọng này, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Gioan Laterano hằng năm được cử hành với lễ kính bậc hai vào ngày 9 tháng 11, quan trọng hơn cả lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Phêrô và Phaolô, cử hành với bậc lễ nhớ bậc ba vào ngày 18 tháng 11. Đền thờ này lúc đầu được dâng kính Chúa Cứu Thế, sau đó dưới thời Đức Giáo Hoàng Gregorio 1 (590- 601) thì lại được dâng kính cả hai Thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ. Dân chúng ở Roma có lòng kính mến đặc biệt đối với thánh Gioan Tông Đồ, vì theo tương truyền (có nhiều sử liệu chứng minh, trong đó có cả Tertulliano), Thánh nhân đã thoát khỏi cuộc hành hình cách lạ lùng tại thành Roma: tại đây ngài bị dìm vào một chảo dầu đun sôi (cách cửa Latina vài mét, ngày nay có Đền thờ nhỏ kính thánh Gioan ở trong chảo dầu – mang tên San Giovanni in Oleo). Đức Giáo Hoàng Ilaro (461- 468) đã thoát khỏi cuộc bạo động của những người rối đạo, sau đó để ghi ơn, ngài đã cho xây một Nhà nguyện cạnh giếng rửa tội hiện nay ở Laterano, và quyết định dâng kính Đền thờ này cho thánh nhân. Cho nên Đền thờ hiện nay mang tên Gioan Latêranô do Đức Giáo Hoàng Lucio đặt tên vào năm 1144. Đền thờ chịu nhiều phá hủy qua dòng thời gian: bị quân man di Genserico cướp bóc vào năm 455: bị động đất vào năm 896. Tổng cộng có hơn 20 vị Giáo Hoàng xây cất, tái thiết, tu bổ và trang hoàng Đền thờ. Đặc biệt vào giữa thế kỷ 17, Đức Giáo Hoàng Innocentê 10 (1644- 1655) đã ủy thác cho kiến trúc sư Francesco Borromini điều chỉnh sửa lại hoàn toàn ngôi Đền thờ. Năm 1735 mặt tiền Đền thờ như ta thấy hiện nay với cổng vào do kiến trúc sư Alexandro Galilei thiết kế. Năm 1885 Đức Lêô 13 cho sửa lại hậu cung Đền thờ. Như thế, trong 10 thế kỷ, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIV, Đền thờ này cũng như tòa nhà bên cạnh đây là trung tâm của Giáo hội Roma, là trụ sở và là biểu tượng của Đức Giáo Hoàng. Cho nên các nhà nguyện, đan viện, nhà trọ và khách sạn được thiết lập chung quanh Trung Tâm này. Chính tại Đền thờ này, Đức Giáo Hoàng Innocentê III (1198- 1216) đã bãi chức hoàng đế Otto, và phê chuẩn luật dòng của Thánh Phanxico Assisi. Tại đây đã khởi xướng nhiều cuộc xuất quân của Thập tự chinh để tái chiếm Thánh địa khỏi tay người Hồi giáo. Năm 1300, Năm Thánh đầu tiên của Giáo hội được củ hành tại đây. Vào năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn đưa Tòa Giám Quản Roma đến Laterano và đặt trung tân hành chánh của Giáo phận Roma trong Tòa giám quản này. Sau đó, Đức Phaolô VI đã cho xây tại Vatican các khu bảo tàng viện mới để lưu giữ các kỷ vật trước kia để ở Laterano như Bảo tàng viện truyền giáo và nhân chủng học. b. Kiến trúc Mặt tiền Đền thờ có từ thế kỷ XVIII trông rất cân đối, và được coi là hùng vĩ uy nga nhất trong số các mặt tiền Đền thờ ở Roma. Kiến trúc sư Alessandro Galilei, người Florence đã thiết kế mặt tiền này vào năm 1735 theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clemente XII. Tất cả đều bằng cẩm thạch, và rất phù hợp với quảng trường phía trước. Bên trên nóc tiền đường ở giữa là tượng Chúa Cứu Thế, hai bên là tượng Thánh Gioan Tẩy Giả cầm Thánh giá, và Gioan Tông Đồ cầm chén lễ. Hai bên có 12 vị thánh Tiến sĩ Giáo hội La tinh và Đông phương, mỗi tượng cao 7 mét, tượng trưng sự hiệp nhất giáo lý của Hội Thánh Kitô. Tổng cộng là 15 tượng. Bốn Thánh tiến sĩ Giáo hội Đông phương là: Gregorio Nazianzeno, Basillio, Gioan Kim Khẩu, và Anatasio. Bốn thánh tiến sĩ Giáo hội Tây phương là Ambroxio, Augustino, Giêronimo và Hilario. Mặt tiền có ghi hàng chữ: “Sacrosancta Lateranensis ecclesia omnium uthis et othis ecclesiarum mater et caput”. Mẹ và Đầu của tất cả nhà thờ ở Roma và trên thế giới. Ở giữa mặt tiền Đền thờ, có ban công chính, các Giáo Hoàng thường ban phép lành cho dân chúng trong dịp Năm Thánh. Cũng tại đây Đức Hồng Y Gaspani, nhân danh Đức Piô XI ký hiệp định Laterano với Italia, thành lập Nhà nước Vatican năm 1929, tái lập sự độc lập pháp lý và lãnh thổ của Tòa Thánh. Từ lúc đó, Đức Giáo Hoàng mới long trọng nhận Đền thờ này là Nhà thờ Chính tòa của mình, với tư cách là Giám Mục Roma. Trong hành lang ở tiền đường Đền thờ, ở phía tay trái, có tượng Hoàng đế Constantino Các hình nổi trên xà cửa Đền thờ diễn tả những biến cố trong cuộc đời thánh Gioan Tẩy Giả. Từ thời đầu tiên cho đến ngày nay chỉ còn lại sơ đồ 5 gian và Đền thờ dài 130 mét, gian chính rộng 16 mét, và dài 87 mét. Trong gian chính của Đền thờ, có 30 cột bằng cẩm thạch màu vàng, ở hai bên có tượng 12 thánh Tông Đồ (cao khoảng 6 mét) do Đức Clemente IX (1700- 1721) cho tạc. Bên trên có hình nổi kể lại sự tích Cựu ước và Tân ước. Trần Đền Thờ bằng gỗ thật huy hoàng do kiến trúc sư Pirri Ligorio khởi sự theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô IV (1559- 1565), ngài thuộc gia tộc Medici nên có huy hiệu của ngài. Công trình này được hoàn thành dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô V (1566- 1572). Gần tường lối vào là huy hiệu của Đức Piô VI (1775- 1799) là vị đã cho trùng tu trần đền thờ này. Tranh khảm đá ở hậu cung Đền thờ là của 2 nghệ nhân Jacopo Torriti và Jacopo da Camerino, thực hiện từ 1288 đến 1294 với chủ đề tuyên dương Thánh Giá. Trên mây là Chúa Cứu Thế, có hình các thiên thần xung quanh. Giữa là Thánh giá có hình chim bồ câu đậu trên. Thánh giá ở trên ngọn đồi bao trùm Jêrusalem thiên quốc từ đó có 4 dòng sông chảy xuống là 4 Phúc Âm, giải khát cho cho các con nai và chiên tượng trưng cho dân Chúa. Bên trái có hình Đức Mẹ và Đức Giáo Hoàng Nicola IV đang quỳ, 2 thánh Phêrô và Phaolô. Bên phải có Thánh Gioan và Anrê. Có hai hình nhỏ là Thánh Phanxico Assisi ở bên trái và Thánh Antôn Padova ở bên phải được vẽ thêm vào theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Nicola IV, vì ngài thuộc dòng Phanxicô. Toàn bộ bức tranh khảm đá này được tháo gỡ ra trong cuộc trùng tu hồi năm 1896, rồi được ghép trở lại, nhưng vì thế bị mất đi phần lớn giá trị nguyên bản. Ở cánh ngang Đền thờ, gần cửa ra vào bên phải, có đàn phong cầm vĩ đại với 2 ngàn ống, đây là một trong những đàn phong cầm quan trọng nhất tại Italia, được 2 cột lớn bằng cẩm thạch màu vàng, trang trí bằng gỗ mạ vàng, chống đỡ. Do kiến trúc sư Luca Blasi thiết kế năm 1599. Có nhiều phần mộ trong Đền thờ này, đặc biệt là của các Hồng Y Rasponi (1670), Casati (1287), Antoni del Portogallo… Các vị Giáo Hoàng Sergio IV (1012), Alexandro III. Bàn thờ của Đức Giáo Hoàng ở điểm chính giữa Đền thờ, được thiết kế lại vào năm 1851. Trước đây, chỉ có Đức Giáo Hoàng được làm lễ tại bàn thờ này mà thôi. Trên bàn thờ có lọng tán kiểu Gôtích, được trang trí bằng những bức bích họa có từ thế kỷ 13. Bàn thờ hiện nay bao gồm bàn thờ cũ bằng gỗ do 33 vị Giáo Hoàng đầu tiên sử dụng, từ thánh Phêro tới thánh Silvestro (thế kỷ thứ I đến IV). Phần dưới bàn thờ được thiết kế vào thế kỷ thứ IX, ở bên dưới có mộ Đức Giáo Hoàng Martino V Colouna (1484- 1492), là vị Giáo Hoàng đầu tiên ở đây sau cuộc ly khai của anh em chính thống Đông và Tây phương. Ngài cũng là vị đã cho thực hiện lát nền đền Nhà thờ bằng nhiều đá cẩm thạch màu sắc khác nhau. Theo tương truyền phần trên của Nhà tạm do Đức Urbano V thiết lập năm 1367, với khung xám bằng sắt, có giữ đầu của Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ. Trong thời quân Pháp xâm lăng vào năm 1799, hai Thánh tích này bị cướp mất và phá hủy. Ngày nay, người ta có thể thấy vật sao lại do nghệ nhân Valasier làm. Trong Mặt nhật đựng Thánh tích bên trên bàn thờ để Mình Thánh Chúa (làm năm 1600) có giữ một mảnh gỗ bàn bằng gỗ rất cổ kính và đơn sơ, theo tương truyền ở Roma, đây là bàn thờ, trên đó Thánh Phêrô đã cử hành thánh lễ. Thánh tích này chỉ được trưng bày ngày lễ Phục Sinh. Ngày nay, Đền thờ này do một vị Hồng y thay mặt Đức Giáo Hoàng làm Giám quản. c. Giếng Rửa tội Ở khu vực bên phải Đền thờ, sau Tòa giám quản có giếng rửa tội. Giếng này có từ thời hoàng đế Constantino (theo lưu truyền vị hoàng đế này đã được Đức Giáo Hoàng Silvestro rửa tội tại đây) và từ năm 432 dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixto III (432- 440), giếng rửa tội có hình bát giác, sau đó trở thành kiểu mẫu cho các giếng rửa tội trong toàn thể thế giới Kitô giáo. Giếng này được trùng tu vào năm 1637 dưới thời Đức Giáo Hoàng Urbano VIII. d. Tháp Bút Đây là tháp bút cao nhất và cổ kính nhất Roma, cao 47 mét tính cả bệ (không có bệ thì cao 32 mét). Tháp bút này bằng đá hoa cương màu đỏ của Ai cập cổ từ thế kỷ XIV trước Công nguyên, và được đưa từ Thèbes bên Ai Cập (tại đền thờ thần Ammoni) về Roma hồi thế kỷ thứ 4, theo lệnh hoàng đế Constanzo 2 trên một con tàu đặc biệt để chở tháp này về Roma. Tháp được đặt tại Circo Massimo dưới chân dinh thự Palatino. Vậy là tháp này có độ tuổi 3.500 tuổi. Năm 1588 Đức Giáo Hoàng Sixto V đã tái thiết và cho chở từ Circo Massimo về Latêranô và dựng trước Đền thờ. Trước mặt bệ tháp có ghi hàng chữ: “Constantino, người chiến thắng nhờ sự chuyển cầu của Thánh Giá, đã được Thánh Silvestro rửa tội tại nơi này, ông đã truyền bá vinh quang của Thánh Giá”. Tiện đây cũng xin ghi nhận Roma là thành phố cổ có nhiều tháp bút nhất thế giới, tổng cộng có chừng 13 tháp. e. Khu vực cạnh Đền thờ Gần Đền thờ có tường thành do Hoàng đế Aurelio xây vào thế kỷ thứ III và có cổng San Giovanni. Phía trước Đền thờ có đài kỷ niệm với tượng thánh Phanxico Assisi, nhắc lại sự tích vào năm 1210, thánh nhân cùng với các bạn đến Laterano để xin Đức Giáo Hoàng Innocentê III phê chuẩn luật dòng của mình. 18. CẦU THANG THÁNH, Scala sancta. Thánh nữ Helena đã đem Cầu thang này từ Giêrusalem về Roma năm 326. Hoàng đế Constantinô con của Thánh nữ đã tặng Cầu thang này cho Đức Giáo Hoàng Silvestro I (314- 337), và ngài đặt Cầu thang thánh này tại dinh Lateranô. Cầu thang thánh lưu lại đây hơn một ngàn năm, cho đến khi Đức Giáo Hoàng Sixto V (1585- 1590) ra lệnh phá hủy tòa nhà cũ của dinh Giáo Hoàng và đặt trong tòa nhà mới, gần đối diện với Đền thờ Gioan Laterano. Ban đêm Cầu thang thánh được đưa tới địa điểm mới: đưa từng bậc một từ dưới lên cao. Tòa Thánh đã ủy thác cho các cha Dòng Thương Khó có Tu viện ở bên cạnh đó coi sóc Đền thờ này. Khi hành thương đến đây, các tín hữu thường quì và leo lên 28 bậc Thang Thánh bằng cẩm thạch được bọc gỗ cho khỏi mòn. Cho đến Trên đầu Cầu Thang thánh có nhà nguyện gọi là Sancta Santorum chứa đựng các Thánh tích vô giá mang về từ Thánh địa và một số hài cốt của các vị tử đạo Roma thời Giáo Hội tiên khởi. Đó là nhà nguyện riêng của các vị Giáo Hoàng thời Trung Cổ từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, và được dâng kính Thánh Lorenso. Ở đây vẫn có một bảo vật được người Roma rất quí chuộng, đó là bức ảnh Chúa Kitô bằng bạc có gắn đá quí được mang trong các cuộc rước của Đức Giáo Hoàng qua các đường phố ở Roma hồi năm 756, do Đức Giáo Hoàng Stephano II chủ sự, để cầu xin Chúa bảo vệ thành Roma chống lại cuộc xâm lăng của người Lombardi. Vào mùa Chay, các xứ đạo ở Roma thường tổ chức hành hương tại Cầu Thang Thánh để cầu nguyện và thống hối đền tội bằng việc đi bằng đầu gối lên các bậc thang của thang thánh này. Họ cũng xưng tội và tham dự thánh lễ tại đây. Đá cẩm thạch của Cầu Thang thánh chỉ có ở Trung Đông mà thôi. Người ta tự hỏi có thật là Chúa Giêsu trong cuộc Khổ nạn đã leo lên cầu thang này 3 lần hay không? Cha Fioravanti là Bề trên nhà Dòng Thương khó phụ trách coi sóc Nhà thờ nói: “khác với quan niệm về Thánh tích của chúng ta thời nay, đối với các tín hữu thời Trung cổ, Thánh tích là một biểu tượng đưa tâm trí chúng ta hướng về Chúa Giêsu, Mẹ Maria hay một vị thánh. Có lần Cha lấy tay chỉ vào những vết lõm trên đá cẩm thạch quanh bàn thờ ở Nhà nguyện và nói rằng: “Các bạn có biết bao nhiêu tín hữu hành hương đã đi qua và quỳ cầu nguyện tại đây và họ đã để lại những dấu vết này?”. Chúng tôi dâng thánh lễ tại Nhà nguyện Sancta Santorum, sát bên Cầu Thang thánh.Cha Tú, Phó xứ Trung chánh chủ tế và giảng lễ. Sau cơm trưa, chúng tôi tiếp tục đi thăm thêm hai Nhà thờ nữa. 19. VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH GIÁ GIÊRUSALEM a. Thánh giá bị chôn vùi và bị xúc phạm b. Thánh nữ Helena tìm thấy Thánh giá Hoàng đế Constantinô đã cho xây một ngôi Thánh đường lớn trên đồi Gongotha và trên mộ Chúa Giêsu và được thánh hiến vào năm 335. Hiện nay khu vực Nhà thờ Mồ thánh ở Giêrusalem là địa điểm hành hương nổi tiếng nhất ở Thánh địa Theo tương truyền Hoàng thái hậu Helena vào năm 80 tuổi, đã đến hành hương Gierusalem để cầu nguyện cho con mình là Hoàng đế Constantinô vì ông này đã ra tay giết chết vợ mình là Hoàng hậu Fausta và cả hai hoàng tử của ông đều bị kết án là phản loạn. Trong cuộc hành hương Thánh địa, Thánh nữ Helena đã tìm thấy cây Thập Giá Chúa cùng với tấm bảng viết của Philatô gắn vào cây Thập giá. Thánh Cyrillo (+386), kế vị Thánh Macario làm Giám Mục Thành Jerusalem, đã viết cho Hoàng đế Costanzo, con của Hoàng đế Constantino: “Dưới thời Constantino, thân phụ của Ngài, Cây gỗ cứu độ đã được tìm thấy ở Jerusalem”. Costanzo qua đời năm 361, nên chắc chắn bức thư của Thánh Cyrillo đã được viết trước ngày đó. Thánh nữ Helena gửi một mẩu Thánh giá thật cho Hoàng đế Constantino. Một phần Thánh giá bà đích thân mang về Roma, phần còn lại vẫn lưu giữ tại Jerusalem. Theo sử gia Socrate, việc tìm thấy cây Thánh Giá Chúa xảy ra vào khoảng năm 325 hoặc 326. c. Thánh giá đến Roma Năm 329, Thánh nữ Helena từ Giêrusalem lên tàu quay trở về Roma, và mang theo nhiều Thánh tích: gỗ Thánh giá, đất thánh ở đồi Gongotha, vài cái đinh đóng chân tay Chúa và vài cái gai trong vòng gai đội trên đầu Chúa. Bà đặt các di tích thánh này trong tư dinh của mình ở khu vực Sessoriano. Cũng năm đó thánh nữ qua đời. d. Xây dựng Nhà thờ Thánh giá Để tưởng niệm thân mẫu, Hoàng đế Constantino đã biến một phần dinh thự ở Sessoriano thành ngôi Nhà thờ để chứa một khúc Thánh giá thật. Qua nhiều lần thay đổi và trùng tu cuối cùng vào thế kỷ XVIII, Nhà thờ có hình dáng như chúng ta thấy ngày nay. Trong Nhà thờ chứa các Thánh Tích: gỗ Thánh Giá, có chứa cả một cánh thập giá của người trộm lành cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu. Năm 1561 Đức Giáo Hoàng Pio IV đã ủy thác cho Dòng Xitô nhiệm vụ coi sóc Nhà thờ Thánh Giá này. Vào thế kỷ XVI, Đức Thánh Cha Piô V cho phép chuyển các Thánh Tích tới nhà nguyện mới khô ráo hơn, thay vì nhà nguyện nằm dưới đất ẩm thấp. Nhà nguyện hiện thời được bố trí nhân dịp Năm thánh 1925. Bước vào, chúng tôi thấy thanh ngang cây Thập giá người trộm lành dài 178 cm, dày 13 cm. Nhà nguyện được khánh thành năm 1930, và hoàn tất năm 1952. e. Các Thánh tích Từ phần Thánh giá được Thánh nữ Helena mang về từ Giêrusalem, hiện thời chỉ còn 3 mảnh nhỏ. Điều này cho thấy Thánh tích cây gỗ Thánh giá Chúa ở Nhà thờ Helena đã chịu cắt xén nhiều lần do sự kiện các vị Giáo hoàng cắt xén nhiều lần để tặng cho các vị vua hay hoàng tộc. Tính chất xác thực của Thánh giá Chúa ở Đền thờ Thánh giá Giêrusalem được chứng thực qua nhiều văn kiện. Trong các văn kiện phụng tự, cũng chứng tỏ. Thánh Gregorio Cả (+604) đã ấn định ngày thứ sáu Tuần Thánh được cử hành ở Đền thờ Thánh Giá Jerusalem. Chính Đức Giáo Hoàng cùng với các giáo sĩ và giáo dân đã đi rước không mang giày vớ từ Đền thờ Laterano đến Đền thờ này để thờ lạy Thánh Giá Chúa. Ngày 19 tháng 9 năm 1780, nhân viên của chính phủ Cộng Hòa Tibêria đến gặp Linh mục coi sóc Đền thờ là cha Sisto Benigni, OC., với lệnh tịch thu Thánh tích. Vị linh mục này hiểu chính phủ Cộng hòa muốn tiêu hủy Thánh tích vì ghét đạo Công giáo, nên bất chấp sự đe dọa, ngài không trao chìa khóa nhà nguyện cho họ. Khi ông Prefetto người thực hiện lệnh tịch thu của chính phủ đến, cha Sisto dấu chìa khóa đi, nên ông buộc lòng ra lệnh phá cửa bên trong Nhà nguyện, đe dọa, nhưng sau cùng rồi ông động lòng và không thực hiện lệnh tịch thu. Nhờ đó các Thánh tích được cứu vãn. Vào năm 1803, nữ quận công Tây Ban Nha Villa-Hermorsa dành tiền để thuê các nghệ nhân làm bình đựng Thánh tích mới chứa đựng gỗ Thánh Giá Chúa. Ông Joseph Valadier đã thực hiện công trình này. Hiện nay ba mảnh Thánh giá được giữ trong bình đựng quý giá này. Chúng tôi lên tận nơi quỳ gối cầu nguyện và chiêm ngắm. g. Tấm bảng án gắn trên đầu Thánh giá Đền thờ này được tu bổ nhiều lần. Trong lần tu bổ năm 1491- 1492, khi sửa mái Đền thờ, người ta tìm được một hộp bằng chì dài 2 gang tay, đóng kín trong đó có bảng gỗ dài một gang tay rưỡi, trên đó có 3 hàng chữ được khắc trên gỗ. Mỗi hàng là một loại chữ khác nhau. Hàng thứ nhất bằng tiếng La tinh, hàng thứ hai bằng tiếng Hy lạp, hàng thứ ba bằng tiếng Do thái cổ. Đó là bảng án Tổng trấn Philatô ra lệnh cho viết: Giêsu Nagiarét vua người Do thái. Ngày khám phá ra là ngày 1.2.1492. Ngày 12.3.1492, Đức Giáo Hoàng Innocente VIII đã đến xem bản án đó. Năm 1496, Đức Giáo Hoàng Alexandro VI xác nhận sự khám phá đó là thật. 20. VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG THÁNH CLEMENTÊ (Nhà thờ có lai lịch cổ xưa nhất tại Roma) Ngôi Nhà thờ đầu tiên là địa điểm của các Công đồng dưới sự chủ trì của Đức Giáo Hoàng Zosimus (417) và Symmachus (499). Sự kiện lớn cuối cùng đã diễn ra tại ngôi Nhà thờ thấp hơn đó là cuộc bầu cử chọn Đức Hồng Y Rainerius làm Đức Giáo Hoàng với tước hiệu Paschal II vào năm 1099. Nhà thờ hiện nay được xây dựng lại trong chiến dịch vận động của Đức Hồng Y Anastasius từ năm 1099 đến năm 1120. Các Tu sĩ Đaminh người Ai len đã trông coi Nhà thờ Thánh Clementê kể từ 1667, khi Anh quốc đặt ra ngoài vòng pháp luật Giáo Hội Công Giáo Ai len và trục xuất toàn bộ Hàng giáo sĩ. Đức Giáo hoàng Urban VIII đã cho họ tị nạn tại Nhà thờ Thánh Clementê, nơi đây có một nhà dành cho các linh mục nghiên cứu và giảng dạy tại Roma. Dòng Đa Minh tự tiến hành các cuộc khai quật trong những năm 1950 với sự hợp tác với các sinh viên khảo cổ học Ý. Đức Hồng y Linh mục hiện nay hiệu tòa Thánh Clêmentê là Adrianus Johannes Simonis, Tổng giám mục danh dự của Utrecht tại Hà Lan. Đức Giáo Hoàng Paschal II (1076-1099) đã từng là người có hiệu tòa này. Sau cơm trưa, chúng tôi tạm biệt Roma và đi xe bus đến Rotondo, nơi có Đền thờ Thánh Piô Năm Dấu Thánh rất nổi tiếng thời hiện đại. |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)